Chương 40
40
Hôm ông Trùm Thịnh cho xe đưa Đơn Đơn về thành phố Ninh Hải, Jim cũng có mặt. Trong lúc Zuân chẳng biết làm gì với thân hình độc thủ và bàn tay hai ngón của mình, thì gã trai ngoại quốc xăng xái bê các thứ lên xe. Zuân cay đắng, tủi phận vì lép vế; bên chàng thanh niên ngoại quốc, anh là kẻ nhỏ nhoi, bất lực. Zuân muốn tìm lý do để gây sự, nhưng gã ngoại quốc kia dường như không thèm để ý, gã dùng đôi tay khỏe mạnh nhấc bổng chiếc xe máy của Đơn Đơn lên thùng xe ô tô, rồi ào tới bế thốc Đơn Đơn lên ca bin và không quên đặt một nụ hôn vào má. Giận gã, anh hờn lây cả Đơn Đơn, anh không thích thái độ nửa vời. Lẽ ra Đơn Đơn phải chửi mắng, nhổ nước bọt, tát vào mặt gã kia mới đúng. Đằng này, hai gò má Đơn Đơn ửng hồng thẹn thò, đôi tay chống cự, tránh né yếu ớt, cảm giác như có vẻ thuận tình. Vô hình chung cô như người đổ dầu thêm vào lửa.. Zuân đùng đùng ra ngõ gọi xe ôm về trường.
Từ ngày về thành phố Ninh Hải, Đơn Đơn ở luôn đình Ngang, ngôi đình thở danh tướng Trần Nguyên Hãn, và đó cũng là nơi sinh hoạt của câu lạc bộ Hàn Giang Ca Quán. Trái với mọi công việc, Đơn Đơn nghỉ vào ngày thường, còn thứ bảy, chủ nhật cô cùng các ca nương biểu diễn phục vụ khách.
Câu lạc bộ Hàn Giang Ca Quán không chỉ là nơi vui chơi, cửa đình Ngang từ lâu đã trở thành nguồn thu nhập chính cho câu lạc bộ. Thời nào cũng vậy, tất cả mọi nghề đều có thể trở thành hàng hóa. Món ăn tinh thần giờ đây như mốt, tiếng hát ả đào của các ca nương được các chính khách và dân sành chơi coi là đặc sản.
Đơn Đơn bước vào nghiệp ca kỹ, chấp nhận sự trả ơn đương nhiên với những người bỏ tiền gửi cô đi học. Nhưng cô nhớ Hà Nội, nơi có biết bao kỷ niệm gắn bó cùng cô trong những ngày còn ở Giáo Phường Thăng Long. Và cô nhớ cả Zuân nữa, thi thoảng thứ bẩy, chủ nhật anh về, nhưng anh về thẳng trại nấm Linh Chi mà không tạt vào thăm, dù nơi cô ở ngay gần bến xe. Cô biết anh ghen hờn với chàng trai người Mỹ. Đơn Đơn như người ở giữa, cô biết làm sao khi anh đau khổ, còn những kỷ niệm về chàng trai ngoại quốc kia lúc nào cũng ám ảnh tâm trí cô.
Jim (tên chàng thanh niên người Mỹ) vốn là sinh viên trường đại học, khoa Nghiên cứu phương Đông. Chàng đã từng đi nhiều nước như ấn Độ, Trung Quốc, Lào, Cămpuchia, Thái Lan.. Đến đâu chàng cũng bỏ công tìm hiểu nền văn hóa của các dân tộc. Chàng có thể say sưa nói hàng giờ về nên nghệ thuật kiến trúc đến Ăng Co, Chùa Vàng, Cánh Đồng Chum, hay trầm trồ ca ngợi điệu dân vũ Chăm Pa nổi tiếng và vẻ đẹp kiêu sa của những cô gái Lào. Và khi tới Việt Nam, lần đầu tiên được nghe ca trù trên sông Hương, chàng đã không cưỡng nổi được sự mê hoặc đến hút hồn của thứ âm nhạc kỳ diệu, mang âm hưởng cao sang, lịch lãm - một loại hình âm nhạc kiểu thính phòng. Và, dưới bàn tay điêu luyện, tài hoa của các nhạc công, thanh âm của từng lời trống mở giục giã thiết tha, hòa với tiếng đàn réo rắt, luyến láy, quyến cuộn cùng nhịp phách giòn tan, lay lả rồi vút lên là tiếng hát với những giai điệu mượt mà, mang bản sắc rất riêng, gây cho chàng ấn tượng không dễ gì quên.
Jim hăm hở lao vào tìm hiểu. Khi ra tới Hà Nội, chàng đến Viện Văn hóa, lục tìm trong thư viện đọc các tài liệu viết về nền văn hóa Việt. Rồi chàng lặn lội đến những địa phương khảo cứu, gặp gỡ các nghệ nhân. Càng tìm tòi chàng càng đam mê. Như kẻ đãi cát tìm vàng, thể loại ca trù như một điểm sáng chói lòa giữa hàng trăm làn điệu dân ca cổ trong kho tàng âm nhạc của một quốc gia có truyền thống văn hóa lâu đời. Cứ vậy, chàng trằm mình trong làn điệu ca trù. Từ ngôn ngữ âm nhạc đến những tiết tấu cộng hưởng, khoan nhặt có sức khêu gợi, lôi cuốn lạ lùng. Khi làn điệu ca trù được cất lên từ môi người con gái duyên dáng, yểu điệu trong trang phục thuần Việt; tiếng hát du dương, trầm bổng, thánh thót, buông lơi, hòa quyện, khắc khoải, thể như sự tỏ bày những nổi niềm đau đáu, mang tâm tư tình cảm của một dân tộc yêu tự do, khao khát hòa bình. Sự trải bày không khuôn lệ, mềm yếu, ủy mị, mà lời ca như tiếng lòng nhắn nhủ, gửi gắm, thổ lộ tâm tư làm say đắm lòng người..
Đối với Jim, ca trù như một sự phát hiện. Chàng không lý giải nổi, vì sao một đất nước đã từng đã trải qua nhiều cuộc xâm lược, đã từng bị ví là "man di, mọi rợ" mà xuất hiện một thứ âm nhạc cao sang, huyền diệu, ma mị đến như vậy? Chàng tự ví âm nhạc ca trù như viên ngọc hoàn mỹ được tìm ra giữa chốn bùn lầy nước đọng, như bông hoa rực rỡ tỏa hương thơm ngào ngạt trên cánh dòng khô cạn. Nhưng vì ngôn ngữ bị hạn chế cùng với những tài liệu dịch còn thiếu. Vì vậy chàng quyết chí tầm sư học đạo. Chính niềm say mê ấy đã dẫn chàng tới những đêm hát của Giáo phường Thăng Long.
Ông Trùm Thịnh rỏ ra là người mến khách. Khi Jim đặt vấn đề muốn lấy đề tài ca trù làm luận văn tốt nghiệp và ngỏ ý muốn nhờ ông giúp đỡ, ông đồng ý. Nhưng khi nghe yêu cầu cụ thể của chàng thanh niên ngoại quốc ông Trùm Thịnh ngạc nhiên: Ca trù soạn ra là để dành cho ca nương trình bày, chứ đàn ông mấy ai hát, mà cậu lại là người ngoại quốc, tiếng Việt còn chưa sõi, hát sao nổi? Jim ôn tồn giải thích: Tôi muốn biết để hiểu nội tâm của từng làn điệu mỗi khi ca nương trình bày.
Lý do của chàng khá thuyết phục, ông Trùm Thịnh gặp hỏi Đơn Đơn, nàng từ chối khéo: Cháu chuẩn bị về Hải Ninh rồi. Mà Giáo phường Thăng Long thiếu gì ca nương có kinh nghiệm sao không để người ta dạy mà lại bảo cháu? Ông Trùm Thịnh nhăn nhó: Bác nói rồi, nhưng anh ta không chịu. Cứ một, hai nhất quyết yêu cầu phải là cháu - Rồi ông gãi đầu. Gãi tai - Cháu nể tình bác, thông cảm với hoàn cảnh câu lạc bộ, mấy khi có điều kiện. Về các khoản chi phí anh ta đồng ý thanh toán cả, còn việc cháu lưu lại một thời gian, bác sẽ nói với ông chủ nhiệm Câu lạc bộ Hàn Giang Ca quán - Rồi ông nói thêm - Những người ngoại quốc như chàng trai này rất hiếm. Nhân dịp này mình dạy cho họ hiểu và biết về âm nhạc của cha ông ta.
Đơn Đơn ngại, mỗi khi nghĩ tới những lần anh ta bồng mình lên tay và áp môi vào má, trong nàng lại xuất hiện một tình cảm khó tả, tạo rực và rất khó quên. Nhưng điều Đơn Đơn ngại hơn cả chính là Zuân. Không hiểu anh sẽ nghĩ sao khi mình ở lại Hà Nội, không phải vì Zuân, mà lý do vì anh chàng người ngoại quốc kia? Nhưng nếu nàng từ chối sẽ trở thành người khiếm nhã, vì vậy nàng nhận lời, mặc dù bị Zuân phản ứng ra mặt và công khai tẩy chay bằng cách không lui tới Giáo Phường Thăng Long nữa.
Đơn Đơn không thanh minh và nàng cũng không trách, tuỳ anh ấy thôi, đã yêu nhau sao không có lòng tin? Chuyện giữa Jim và Đơn Đơn nào đã có gì đâu mà Zuân cứ hay suy diễn. Không gặp thì thôi nhưng hễ gặp là bóng gió xa xôi. Đơn Đơn không chịu được "máu Ô Ten Lô" và những lời báng nhạo của Zuân. Ai lại thế bao giờ, người ta từ xa xôi đến đây, câu lạc bộ cần tăng thu nhập, và theo ý của ông Trùm Thịnh, cần quảng bá cho người nước ngoài hiểu được vốn quý của nền văn hóa dân tộc Việt.
Những đêm biểu diễn từ ngày có Jim, khách đến đông hơn, sự ngộ kỳ và tiếng roi chầu của chàng giữ nhịp cho canh hát thường đạt hiệu quả cao. Ông Trùm Thịnh hài lòng lắm. Thoạt đầu, Đơn Đơn sợ sự dạn dĩ của Jim, nhưng rồi quen dần, vả, cô không muốn ý riêng của mình làm tổn hại tới công việc chung. Và không hiểu bắt đầu từ bao giờ cô cảm mến chàng, sự không đừng của tâm hồn ca nương trước một chàng trai hào hoa phong nhã, nhiệt tình, sôi nổi, dẫu tình cảm của nàng vẫn nghiêng về Zuân, song, hình ảnh chàng trai người Mỹ thường lấp lóa trong trái tim người thiếu nữ.
Về phần Jim, ngay lần đầu gặp Đơn Đơn, chàng đã ngỡ ngàng trước sắc đẹp lộng lẫy và tiếng hát như hút hồn của nàng. Cùng với sự ngỡ ngàng, chàng xót xa bởi cảnh ngộ. Người thiếu nữ mặt hoa, da ngọc, ngồi trên vạt chiếu điều, trong trang phục người con gái thời Lý, trông duyên dáng, cao sang bao nhiêu, thì đôi chân teo tóp khuất sau làn vải cùng những "bước đi" lê lết của nàng như trì xiết trái tim mẫn cảm của chàng.
Chàng nhớ đến những câu chuyện của cha và các bạn cha kể lại. Họ nói về những lần lái máy bay đi oanh kích, bầu trời gào rú tiếng động cơ phản lực, và dưới kia, những cánh rừng rên xiết, run rẩy trong bom đạn và những cơn mưa hóa học. Cha cười hô hố và cả đám người kia cũng cười hô hố. Họ ăn và uống, thao thao nói về những trận đánh như ôn lại những kỷ niệm vui. Lúc bấy giờ chàng còn nhỏ, thấy họ cười, chàng cười theo và kiêu hãnh nhìn những tấm huân chương đeo trên ngực cha và lấy đó là niềm tự hào.
Nhưng giờ dây, khi tận mắt nhìn, tận tai nghe những câu chuyện nàng kể về đời sống của những đứa trẻ trong trại Nấm Linh Chi, chàng rùng mình khiếp hãi. Đó là ý Chúa hay bởi "người Mỹ chiến tranh" lấy xâm lược coi là chân lý? Chân lý thuộc về kẻ mạnh. Nhưng chân lý nào hàn gắn được những vết thương đau?
Có biết bao câu hỏi luẩn quẩn trong đầu chàng. Hình ảnh những miền đất chàng đi qua hiện lên trong tâm trí. Những cánh rừng bao năm còn xác xơ vàng úa; những miền đất màu mỡ còn rơi rớt lại hàng trăm ngàn quả bom mang nhãn hiệu USA. Thứ thương hiệu chàng đã từng tự hào và kiêu hãnh. Và đây nữa, những đứa trẻ tật nguyền, dị dạng, trên thân xác chúng khi sinh ra đã không hoàn nguyên hình hài. Chúa vô tình hay cố ý để thức tỉnh thế gian? Chàng thấy xấu hổ và ghê tởm. Có cái gì ứ nghẹn nơi cổ họng. Chàng vùng dậy trong đêm, cố xua đi những giấc mơ khủng khiếp.
Và mỗi lúc như vậy, chàng lại tìm đến Chúa. Thứ ảo ảnh mơ hồ chàng tôn thờ như mục đích cứu rỗi. Từ sâu thẳm, nơi Chúa ngự như mách bảo, tâm thiện và đức hy sinh, trách nhiệm gột rửa, hàn gắn, bù đắp thuộc về những kẻ có lương tâm. Chàng nguyện làm "tôi" của Chúa, muốn chứng minh điều ngược lại con đường cha mình đi và lý tưởng của "người Mỹ chiến tranh" đã theo. Chàng tự nhủ, bằng niềm tin và lòng dũng cảm của một tín đồ, hằng mang đức tin làm sáng danh ý Chúa, chàng mong hòa đồng với nơi mình đã tới, mong lắng dịu bớt nỗi khổ đau của những con người tận khổ. Và hơn nữa, dẫu chưa lý giải nỗi tình cảm, nhưng thẳm sâu trong tâm khảm, hình ảnh Đơn Đơn luôn hiện lên ngự trị trái tim chàng.
Jim tìm đến nơi Đơn Đơn trọ. Đó là một căn phòng nhỏ dưới tầng một ở khu tập thể cũ phía sau phố Thuỵ Khuê gần hồ Tây. Hôm đó Jim không đi ô tô mà ngồi xích lô tới, trên tay cầm một bó hoa rất tươi. Đơn Đơn ngạc nhiên: Ôi, Jim, sao anh tìm được nhà em? Jim áp tay lên ngực trái, trịnh trọng trao hoa: Tặng em. Mặt Đơn Đơn đỏ bừng, đây là lần đầu tiên nàng được một người con trai tặng hoa. Nàng đưa mũi hà hít: Đẹp và thơm quá, cảm ơn anh. Nhưng ai cho anh địa chỉ nơi em ở? Jim cúi sát vào tai nàng thì thầm một câu rất mùi mẫn - Bí mật, anh đi theo tiếng gọi của trái tim. Đơn Đơn cười khanh khách, cho rằng Jim đùa.
Jim đưa mắt nhìn quanh, căn phòng nơi Đơn Đơn ở tồi tàn, tường loang rêu mốc, nền nhà ẩm thấp, ngoài chiếc giường đơn cũ kĩ, có một chiếc tủ gỗ nhỏ đã long mộng, không ti vi, đài đóm, Jim lắc đầu: Em ở đây không tốt, có hại cho sức khoẻ, đường đi lối lại khó khăn. Nếu em đồng ý, anh sẽ thuê cho em một phòng ở khách sạn? Nàng không muốn nói hoàn cảnh của câu lạc bộ còn eo hẹp nên chỉ có điều kiện cho nàng như thế. Nàng đáp: Không cần đâu, em chỉ ở thêm ít ngày nữa thôi mà. Jim đã nghe ông Trùm Thịnh nói về hoàn cảnh của Đơn Đơn. Nhưng chàng không ngờ người có giọng hát hay và xinh đẹp như nàng mà phải ở một nơi tồi tàn như vậy.
Jim móc túi lấy ra một chiếc điện thoại di động nhỏ màu ánh kim xinh xắn đưa cho nàng: Tặng em. Đơn Đơn chau mày, nàng không thích sự đường đột này. Vô cớ đi nhận quà của một người ngoại quốc, mọi người biết liệu sẽ nghĩ thế nào? Chàng trai ngoại quốc hỏi: Sao, em chê à? Không biết giải thích thế nào, nàng chỉ tay vào bó hoa, từ chối khéo: Cảm ơn anh, hoa em nhận - Nàng đẩy hộp quà về phía Jim - Còn điện thoại, em không nhận đâu. Jim kêu lên: No.. No.. - Rồi lại thốt lên bằng tiếng Việt - Tiền không đắt mà..
Nghe Jim phát âm ngược Đơn Đơn phì cười. Mặt chàng đỏ bừng, bờ cổ gân guốc nổi từng sợi, vẻ bực dọc vì không tìm được từ để giải thích. Và rồi như muốn nàng hiểu mục đích, Jim lấy chiếc điện thoại của mình ra đặt sóng đôi, chỉ vào cái này rồi chỉ sang cái kia ý ra điều giải thích với nàng: Đơn giản chỉ là vấn đề liên lạc.
Nhìn điệu bộ Jim, Đơn Đơn cố nén. Trông chàng lúc này không khác mỗi lần học hát; mồm lúc tròn vo, lúc méo xệch, cần cổ vươn, mặt gân guốc, đỏ lừ, mắt lim dim, đầu lắc lư say sưa bắt chước theo nàng trông thật ngộ. Tuy vậy nàng thừa nhận trí thông minh và sự tiến bộ của chàng. Thấy nàng vẫn im lặng, Jim buông hai chiếc điện thoại xuống, nằm kềnh ra giường kèm theo một câu nói tỏ ra cương quyết: Đơn Đơn không nhận, Jim không về!
Đơn Đơn bật cười khanh khách, nàng vui vì hành động ngây ngô và thái độ liều lĩnh của chàng. Nàng mặc kệ, với chiếc lọ, dỡ bó hoa cắm vào. Chợt ngoài ngõ có tiếng người lao xao, nàng quay lại túm lấy áo Jim: Dậy, dậy, dậy đi, có người! Jim vẫn ỳ ra, chàng giãy giãy, hất tay ra chiều hờn giận, nhích ra xa, lật nghiêng người nằm vào tận góc, mặt quay vào phía trong. Đơn Đơn cuống quýt, nhoai người túm cánh tay chàng kéo: Ơ, cái anh này, buồn cười thật đấy. Dậy đi, có người vào kia kia - Nàng nhổm người lên dùng hai tay lôi Jim - Dậy đi, không người ta nhìn thấy thì sao? Jim nằm nguyên tư thế, miệng đáp: Em không nhận, anh không dậy. Đơn Đơn nhìn qua cửa sổ, có mấy người đi qua, đành xuống nước: Được rồi, em nhận.. Em nhận, thế đã được chưa? Nào, dậy đi anh.
Chỉ chờ có thế, Jim nhoẻn cười lật người lại, khiến Đơn Đơn mất thăng bằng ngã nhào đè lên người chàng. Nàng lọt thỏm trong đôi tay rắn chắc của Jim. Hai khuôn mặt kề nhau, hơi thở nồng nồng phả lên da mặt nàng, đôi mắt chàng biếc xanh như nước biển đắm đuối, chứa đầy dục vọng ham muốn như xuyên suốt người nàng. Trong khoảnh khắc, nàng cảm nhận phần dưới cơ thể người đàn ông căng cứng, nóng hổi truyền sang. Chút cảm giác đê mê xâm chiếm, nàng thấy mình bải hoải, đờ đẫn, mắt lim dim chờ đón.. Jim khẽ khàng đỡ khuôn mặt xinh đẹp, vươn bờ môi hứng lấy môi nàng, thì thầm: Anh yêu em.
Lời tỏ tình của Jim khiến nàng bừng tỉnh, Đơn Đơn mở choàng mắt ra, hoảng hốt cưỡng lại, lấy tay chống vào ngực Jim đẩy ra. Nhưng khốn thay, chân nàng không cử động nổi, mà đôi bàn tay kia cứ từ từ ép xuống. Nàng lắc đầu tuyệt vọng, thảng thốt yếu ớt: Không.. Đừng.. Đừng.. Anh. Nước mắt nàng trào ra lã chã rơi lên đôi môi chàng mặn chát.
Jim bất ngờ, chàng không hiểu những giọt nước mắt kia là vì sao? Khác hẳn với những người phụ nữ chàng đã từng gần gũi. Khuôn mặt Đơn Đơn vẻ như đau khổ nhiều hơn là vui sướng. Jim đỡ nàng lên. Thay cho sự mãnh liệt, hối thúc là sự ân hận và ngượng ngập: Xin lỗi, nhưng anh yêu em.
Đơn Đơn vuốt lại tóc, đưa tay kéo ống quần che đôi chân teo tóp. Nàng nói: Có phải người Mỹ thường hay xử sự thế với phụ nữ phải không? Câu hỏi của nàng làm chàng thêm ngượng, mặt Jim đỏ bừng, chàng không biết trả lời sao, lúng túng, hối hận. Nhìn vẻ mặt thành khẩn của Jim, nàng nhẹ nhàng nói: Con gái Việt Nam chúng em không thích thế. Jim đưa tay nắm tay nàng: Anh biết làm thế là không tốt, nhưng anh yêu em. Yêu? - Nàng cười khẩy - Anh nói lời yêu sao mà dễ? Jim nắm tay nàng: Anh thật lòng mà em. Nàng kéo ống quần lên chỉ vào đôi cẳng chân nhũn nhão, vô cảm: Anh không ngại em bị tàn tật ư? Jim ngước mắt nhìn nàng, hai bàn tay ấp lên đôi chân nàng ve vuốt: Thân xác em tàn tật nhưng em là người con gái xinh đẹp và tràn đầy nghị lực. Em có biết anh yêu em ngay từ lần đầu tiên nghe em hát không?
Đơn Đơn im lặng, nàng bâng khuâng vì lời tỏ tình của chàng trai người Mỹ. Yêu thích tiếng hát của nàng thì nhiều người đã nói. Nhưng yêu thân xác nàng thì đâu phải kẻ nào cũng có lòng dũng cảm? Ngay như Zuân thôi, anh chưa bao giờ tỏ ra yêu nàng với tình cảm của một người đàn ông. Khi ở bên Zuân, nàng thấy mình an toàn, thứ an toàn độ lượng, bao bọc, gìn giữ, ân cần thể như một người anh đáng kính với đứa em nhỏ bé. Nhiều lúc nàng có cảm giác Zuân đối với nàng như sự ghép đôi không hơn không kém.
Kể từ khi gặp Jim, sâu thẳm trong tâm hồn, nàng nhận ra, nàng cần ở người đàn ông sự dạn dĩ, mãnh liệt, cuồng khát hơn cả sự chở che. Và cái đó thì Jim lại rất sẵn. Mỗi lần gặp, ngoài tư chất thông minh, dí dỏm, tỏ ra hào phóng, bặt thiệp, trong đôi mắt mầu xanh kia chứa đựng một ngọn lửa hoang dã, luôn sẵn sàng bùng cháy..
Nàng bảo Jim - Dù sao em cũng cảm ơn anh. Nhưng em không phải là người xứng với anh. Jim hỏi: Vì sao chứ? Đơn Đơn rút chân lại, điềm tĩnh nói: Vì sao ư? Jim ơi, giữa chúng ta là khoảng cách, anh là người nước ngoài lại có học vấn, em chỉ là một ca nương hát ở nhà trò, chuyên mua vui cho khách. Jim nhìn nàng ngạc nhiên: Sao em tự hạ thấp mình như thế. Em có biết nói như vậy chính là hạ nhục nền văn hóa của dân tộc mình hay không? Anh cứ tưởng đó chỉ là những luận điểm của một số người còn mang nặng tính cổ hủ của thời phong kiến xa xưa. Nhưng anh không ngờ đó lại chính từ miệng em nói ra - Giọng chàng trở nên sôi nổi - Em có biết không, trước khi sang Việt Nam, anh đã từng nghĩ, mình sẽ tới một đất nước nghèo nàn, khốn khổ với những tộc dân lạc hậu vừa thoát khỏi thời kỳ ăn lông, ở lỗ. Nhưng khi tới đây rồi, anh đã phải thay đổi nếp nghĩ. Một dân tộc dám đứng lên tìm tự do cho chính mình, chiến đấu bằng lòng yêu nước vô hạn. Có bề dày lịch sử hàng ngàn năm và một nền văn hóa vô cùng phong phú. Và rồi anh tìm thấy trong cái kho tàng văn hóa vĩ đại ấy, một thứ âm nhạc riêng biệt, mang bản sắc bác học, và có thể nói, ca trù không chỉ là riêng của dân tộc Việt Nam, mà nó phải được coi là di sản quý báu của cả thế giới. Còn em - Chàng đột ngột nắm vai nàng lắc lắc - Em lã người kế thừa sự tinh tuý ấy. Không có những ca nương như em, liệu vốn âm nhạc kỳ diệu kia có còn tồn tại nữa hay không?
Cảm động trước những lời Jim nói, nàng biết, ngay ở Việt Nam, có nhiều người vẫn coi ca trù là thứ xa xỉ, và ca nương hát nhằm mua vui cho khách làng chơi. Cũng có thể - Nàng nhớ ông Trùm Thịnh có lần đã nói - Ngày xưa, ca trù là một loại hình âm nhạc giải trí đặc quyền dành cho vua, chúa trong cung đình. Khi biến thể, ca trù thành một "món ăn" cho kẻ giàu có và dân sành chơi. Bởi nhận thức chưa đầy đủ, người ta coi danh cầm và đào nương là hạng "xướng ca vô loài", bị miệt thị là món đồ chơi, mua vui. Mấy ai nghĩ, để trở thành một danh cầm có tiếng, các kép đàn phải dày công luyện tập, có kỹ thuật điêu luyện, am tường bài bản, hiểu rõ niêm, luật; còn người cầm roi chầu, dáng dấp phải đĩnh đạc, ung dung, phong lưu, đài các, thông thuộc từng khổ đàn, khổ phách; thanh lọc được âm sắc trầm, đục, thanh sảng, réo rắt của tiếng đàn, tiếng phách, thuần thục từng chiêu thức, khen, phạt công thực xuyên tâm, song châu, liên châu, hạ mã, lạc nhạn.. Còn các đào nương được tuyển chọn đều là người có tài, có sắc - Ông Trùm Thịnh liếc nhìn Đơn Đơn nói tiếp - Nhưng tài, sắc mà không khổ công trau luyện miệt mài, thì đâu có thể biểu đạt hết cái đẹp, sự sang trọng, cao thanh của thứ âm nhạc đặc trưng, độc nhất, vô nhị của dân tộc ta? - Ông Trùm Thịnh hạ giọng - Cháu thấy đấy, trên đất nước ta hiện đã có nhiều nơi phát triển loại hình âm nhạc này, nhưng có phải câu lạc bộ hay giáo phường nào cũng có những ca nương có giọng hát hay? Cũng hát đấy, mà như "vẹt nói theo" "chim tập hót". Vì vậy bác muốn khuyên cháu điều này: Muốn làm một ca nương giỏi, ngoài tiếng phách chau chuốt, nhuần nhuyễn, còn phải có giọng hát mang phong cách riêng, độc đáo, và phải hát bằng cả trái tim mình, gửi gắm tâm tư vào từng câu, từng chữ, để tôn vinh và thể hiện hết được thứ âm nhạc kỳ diệu này..
Ông Trùm Thịnh còn giảng giải cho Đơn Đơn nhiều điều. Và, nàng đã không phụ công ông. Nhưng quả thực nàng hiểu, ai có vào nghề hát ca trù mới thấy gian nan vất vả. Nếu trước đây, nàng hát theo bản năng tự thành, thì khi đến học ở Giáo phường Thăng Long, nàng thêm hiểu: Trong ca trù, tiếng hát của ca nương quyết định sự thành, bại cho một canh hát. Và để có được âm sắc riêng, ca nương phải hát bằng chính cảm xúc của mình, thông qua thân phận con người được biểu cảm trong từng lời ca từ. Khác hẳn với các ca sĩ hát nhạc mới, ca nương khi biểu diễn ca trù, tay dạo phách, mồm nhả chữ, miệng không há to, ém hơi trong cổ, mặt tịnh không biến sắc, chỉ một chữ "ư" ngân thế nào, luyến láy ra sao, lúc nào buông, nhả, lúc nào khoan, nhặt mà vẫn phải "tròn vành rõ chữ" khiến người nghe rạo rực, tâm thế lâng lâng, hoài niệm thả hồn đắm chìm trong khúc điệu du dương..
Thấy Đơn Đơn im lặng, chàng nói: Đơn Đơn ơi, ngoài tình yêu, anh còn muốn làm được cho em những điều hơn thế nữa. Nàng hỏi: Anh có thể nói cho em nghe được không? Jim đáp: Nếu được em chấp nhận, anh sẽ xin chính phủ hai nước đưa em sang Mỹ. Sang Mỹ? - Đơn Đơn nhướn mắt nhìn chàng: Em sang đấy để làm gì? Jim nói: Ngoài việc anh muốn em giúp anh là luận điểm sống cho bản luận văn tốt nghiệp Tiến sĩ; anh còn muốn đưa em đến những bệnh viện tân tiến, có những giáo sư, bác sĩ giỏi, khám và chữa trị cho em. Đơn Đơn nghe chàng nói, nàng hồ nghi: Anh nói sao? Chân em chữa lành lặn được ư? Jim ngước nhìn lên cao, nàng có cảm tưởng ánh mắt vọng cầu của chàng xuyên thấu những lớp bên tông dày đặc kia để vươn tới tận bầy trời xanh thẳm. Chàng đưa tay làm dấu, giọng nói êm ru: Xin Chúa hãy vì người con yêu mà xóa đi những hoài nghi, mặc cảm. Con nguyện sẽ cùng nàng dắt tay nhau tới thánh đường thành tâm cầu nguyện - Chàng nắm tay nàng tha thiết - Đơn Đơn ơi, em có nghe những lời khẩn cầu của anh với Đức Chúa nhân từ không? Anh hằng tin Chúa lòng lành sẽ động lòng trắc ẩn, Người sẽ ra tay cứu giúp, và đôi chân em sẽ được lành lặn bởi phép màu từ nơi Chúa. Hãy đi cùng anh em nhé!
Đơn Đơn bất ngờ, điều đó ngoài sức tưởng của nàng. Sang Mỹ ư? Đâu có được, còn đức tin, đâu có thể! Từ trước đến nay, mẹ Thương và những người trong trại nấm Linh Chi chưa bao giờ coi nước Mỹ là bạn. Đối với họ, nước Mỹ là kẻ thù không đội trời chung. Và đức tin của những người trong trại nấm Linh Chi là đức tin của những người khổ hạnh, thèm ước một phép màu thay đổi. Nhưng đã bao năm qua đi, chiến tranh dẫu xa rồi, nhưng vết thương này chưa nguôi, chưa kịp lên sẹo, thì vết thương kia đã bắt đầu rỉ máu, lở loét. Bao hình hài sinh ra dị kì, thiếu hụt. Họ sống vật vã, mang mối thù truyền kiếp nối đời nọ tới đời kia. Những dị tật mang trên người họ không phải chính do những người Mỹ gây ra đấy thôi! Vậy mà họ vẫn chối từ trách nhiệm..
Không thể được, Đơn Đơn thở dài: Không được đâu, giữa chúng ta là chiến tuyến. Em và anh chỉ có thể làm bạn. Tưởng nói thế Jim sẽ hiểu, nhưng ngược lại, anh chàng người Mỹ tuyên bố xanh rờn trước khi tạm biệt: Quá khứ là quá khứ, thế giới hiện nay không còn đối đầu như trước nữa và đã chuyển sang đối thoại rồi. Anh tin sắp tới quan hệ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam sẽ được cải thiện hơn nữa. Còn về tình cảm của anh và em. Không ai cấm được anh yêu em, trừ Chúa!
Jim đi rồi, căn nhà trở lên lạnh lẽo, trống trải. Ngoài trời gió chuyển mùa, mây vần vũ, màn trời xám xịt rồi lác đác có tiếng mưa lộp độp ném xuống mái tôn. Đơn Đơn lết ra kéo cánh cửa che gió. Một tia chớp loé lên kèm theo tiếng sét dữ dội, điện phụt tắt, cả gian phòng tối om. Đơn Đơn mò mẫm tìm nến rồi bật diêm châm, ngọn nến lay lả yếu ớt chực sáng, chực tắt. Tiếng mưa mau dần kèm theo những tiếng sấm rền vang. Nàng ngồi vậy với ngọn nến trong gian phòng cô quạnh, lòng bâng khuâng một nỗi niềm khôn tả. Dường như những gì Jim để lại, tác động đến trái tim mẫn cảm của nàng. Nàng cầm chiếc máy di động mân mê rồi bật mở. Hình ảnh Jim hiện ra với khuôn mặt tuấn tú và cái nhìn đau đáu. Nàng xoa ngón tay út lên màn hình cảm ứng, mái tóc vàng tơ lay động, ánh mắt màu xanh chấp chới và môi chàng hé mở. Trái tim nàng hình như run rẩy, từ sâu kín cơ thể nàng niềm khát khao, thèm nhớ trỗi dậy. Vô thức, nàng ngả đầu xuống gối, áp chiếc máy di động lên bầu ngực tròn trịa, day nhè nhẹ như cố tìm lại hơi thở nồng nàn và hành vi cuồng si bạo liệt..
Nửa đêm nàng thức giấc, ngoài trời mưa vẫn rả rích, ngọn nến tắt từ bao giờ không biết nữa. Có tiếng nước róc rách chảy. Đơn Đơn bật diêm tìm cây nến khác thắp lên khỏa ánh sáng nhìn. Nước dồn ứ tràn qua khe cửa, dâng lên chạm mép giường. Nàng hoảng hốt ngồi nhích vào, tay chạm chiếc điện thoại. Nàng cầm lên mở ra, anh chàng người Mỹ hiện ra với nụ cười tươi rói, Đơn Đơn ngần ngừ không biết có nên gọi cho Jim không. Nàng xem đồng hồ: Bây giờ mới ba giờ sáng. Chắc giờ này anh đang ngủ. Nàng buông chiếc điện thoại xuống giường, lặng lẽ nhìn ngọn nến tỏa sáng trong đêm. Không hiểu sao nàng rất muốn Jim nghĩ tới mình. Đúng lúc ấy, tiếng chuông điện thoại reo. Nàng mở máy, không kịp hỏi, giọng gấp gáp: Anh Jim, nước ngập vào nhà em rồi. Jim đáp: Em cứ bình tĩnh, anh sẽ đến ngay!
Jim gọi tắc xi, tới đầu đường Hoàng Hoa Thám, chàng bảo người lái xe dừng, dặn chờ rồi cầm đèn pin đi xuống. Mưa vẫn rất to, đường phố Thuỵ Khuê trắng nước, rác rưởi trôi lềnh phềnh. Dân phố đổ ra í ới, hò nhau chạy lụt. Jim bì bõm lội vào ngõ, nơi Đơn Đơn ở, nước đã ngập tới cửa sổ, chiếc xe máy của Đơn Đơn chìm nghỉm, trơ hai cùi ghi đông trên mặt nước trông như sừng hươu. Jim hoa đèn pin, gọi: Đơn Đơn, em ở đâu? Đơn Đơn vui mừng đáp: Anh Jim, em ở trong này. Chàng đẩy cửa, nhưng vướng then trong. Chàng lấy người ảy mạnh, bản lề bung một mảng, nước bên ngoài tràn vào. Đơn Đơn co ro ngồi trên nóc tủ, chàng dang tay ôm lấy nàng, xót xa: Có anh đây rồi, em dừng sợ. Không biết vì đôi tay ấm nồng hay bởi lời nói kia mà nước mắt nàng ứa ra vì cảm động..
Từ hôm đấy Jim kiên quyết giữ nàng lại khách sạn nơi chàng ở, cho tới khi Đơn Đơn về Ninh Hải, chàng xin phép ông Trùm Thịnh về theo.
Từ thành phố Ninh Hải về trại Linh Chi gần ba mươi cây số, sáng thứ hai Đơn Đơn đi xe máy về trại nghỉ bù thì chiều hôm trước Zuân nhẩy xe khách lên Hà Nội về trường. Rất ít khi hai người gặp nhau. Hồi đầu mẹ Thương không biết tình cảm rạn nứt của hai người, trêu: Hai đứa cứ như sao hôm và sao mai ấy, đứa này đi thì đứa kia về. Nghe, Zuân cười gượng còn Đơn Đơn buồn ra mặt. Cô nói: Anh Zuân quên con rồi mẹ ạ!
Mẹ Thương hỏi: Các con giận nhau đấy à? Không ạ! Zuân đáp, nhưng khuôn mặt tư lự, sầu não phản bội anh. Lại là tình yêu. Mẹ Thương nhác qua hiểu ngay, bọn trẻ bây giờ tự do và có điều kiện hơn, nhưng nỗi khổ trong tình yêu và sự dằn vặt, vò xé của con tim bao giờ vẫn thế. Có cần mẹ nói chuyện với Đơn Đơn không con? Chị hỏi Zuân. Cảm ơn mẹ - Zuân từ chối sự giúp đỡ của mẹ - Chúng con lớn rồi, có gì chúng con sẽ tự giải quyết. Anh không muốn phiền. Mẹ còn bao nhiêu là việc, nỗi lo toan cho sự tồn vong của cái trại này đã đủ mệt, để mẹ nghĩ ngợi thêm chuyện của mình với Đơn Đơn làm gì. Nhưng mỗi lúc thấy lòng cô đơn trống trải, anh lại về với mẹ, với chị Doan, với trại nấm Linh Chi.
Giờ đây lứa trẻ cùng sống với anh một thời chỉ còn lại chị Doan và Bình, Sơn nghoẹo, Nam đao, Hà gấm, Ngọ ngọng và Thắng độc nhãn. Một vài người đã xin được việc làm hoặc trở về gia đình. Nhưng trại Linh Chi chưa bao giờ thiếu, những đứa trẻ này đi, những đứa khác tới, như cái phễu đón hết lứa này lại tới lứa khác, tàn dư của chiến tranh tựa mạch nước ngầm chứa độc tố, ngấm sâu, lan rộng, như vết dầu loang, dai dẳng tàn phá cơ thể những sinh linh bé bỏng. Nhưng dẫu sao, được sống cùng với những đứa trẻ có chung số phận lòng Zuân nhẹ hẳn. Ở đấy có những kỷ niệm không bao giờ quên, anh thấy lại hình ảnh bé Đơn Đơn ngày nào nhõng nhẽo trên lưng, lấy tay xoa xoa nơi bờ vai cụt có bàn tay tý xíu nhú lên như bông hoa của anh mà cù rồi cười nắc nẻ.. Thế mà giờ đây, anh cảm thấy bị tổn thương, vết thương không rỉ máu nhưng đắng xót tận lòng.
- Hay mẹ gọi nó về đây cho hai đứa nói chuyện? - Mẹ Thương gặng. Đừng làm thế mẹ! Zuân nói - Thứ bẩy, chủ nhật Đơn Đơn phải biểu diễn, hát ca trù cần tập trung, để cô ấy phân tâm hát sao nổi. Mà.. Bọn con có chuyện gì đâu mẹ.
Zuân nói vậy nhưng mẹ Thương không an tâm, nội cái trại này đứa nào thế nào sao mẹ không biết, thằng Zuân chúa sống nội tâm, nó là đứa bé có tư chất mã thượng nhưng hay mặc cảm và tự ái. Đơn Đơn tính tình tốt nhưng vô tư, thiếu tế nhị, từ bé được cả nhà chiều, nhất là từ khi phát hiện ra nó có giọng hát hay. Con bé đến lạ, cứ truyền hình hát bài nào y như là nó thuộc. Con bé thích nhất chương trình các nghệ nhân hát ca trù. Nó nói: Con thích hát ca trù vì khi hát được ngồi không phải đứng. Lý do nó đưa ra làm mọi người buồn cười nhưng với đứa trẻ có đôi chân teo tóp như nó thì thật có lý.
Nhớ lần câu lạc bộ Hàn Giang Ca Quán đến thăm trại, một vị khách lặng lẽ chăm chú nghe Đơn Đơn hát. Khi nó hát xong ông không vỗ tay mà kéo mẹ Thương ra hỏi: Con bé còn bố mẹ không chị? Dạ - Thương trả lời - Cháu bị bỏ rơi từ bé. Chúng tôi muốn bảo trợ riêng cho cháu đi học một khóa hát ca trù, chị thấy thế nào? Thấy thế nào nữa, với những đứa trẻ tật nguyền, tìm được công việc cho chúng là điều đáng mừng, nhưng chị vẫn nói: Nhưng ông để tôi hỏi ý kiến của cháu đã! Đơn Đơn biết gì đâu, được hát là vui rồi. Nhưng tôi nói trước - Người đàn ông giao hẹn - Nếu chị đồng ý phải làm giấy tờ đàng hoàng, sau khi học xong coi như cháu Đơn Đơn là thành viên của câu lạc bộ Hàn Giang Ca Quán. Chị đồng ý, vậy là hợp đồng được ký kết. Hơn nữa, câu lạc bộ Hàn Giang Ca Quán còn bỏ tiền mua cho Đơn Đơn một chiếc xe ba bánh gắn máy chuyên dùng cho thương binh để tiện việc đi lại.
Thoạt đầu Thương còn băn khoăn, sau vài lần tìm hiểu, thấy những thành viên trong câu lạc bộ Hàn Giang Ca Quán đều là những người đứng đắn, yêu nghệ thuật, say mê ca trù nên chị đồng ý. Riêng Zuân mừng ra mặt, sáu tháng Đơn Đơn lên Hà Nội học là món quà vô giá. Đối với anh, được ở bên cạnh người mình yêu là vui rồi.
Những tưởng hai đứa gần gũi sẽ tạo điều kiện động viên nhau trong học tập. Ai dè, có những điều không ngờ tới. Là mẹ, nhìn dáng điệu con lay lắt, tâm hồn bất định Thương không chịu được. Mình lại phải ra tay thôi. Nghĩ vậy, Thương định bụng lựa lúc nào tìm hiểu xem sao.
- Mẹ ơi, mẹ thương con và em Đơn Đơn thì đừng làm gì mẹ nhé. Chúng con đủ khả năng để quyết định được tương lai của mình rồi! Zuân thủ thỉ. Cha bố nó, cứ y như là đi guốc vào bụng mình, vừa nghĩ ra nó đã đoán được. Thương nói: Thôi thì việc yêu đương giữa con và nó mẹ mặc, nhưng chuyện sống thế nào cho người đời không chê cười là của mẹ.
- Nhưng mẹ không nhớ Đơn Đơn đã là người của Hàn Giang Ca Quán rồi ư? Zuân nói. Con nói với mẹ như vậy là có ý gì? Mẹ Thương nhìn Zuân. Thế nó làm việc ở đấy thì hết tình nghĩa mẹ con à? Này, mẹ nói cho các con biết nhé! Đứa nào đi đâu, làm gì thì vẫn là con của mẹ nhé! Trong hợp đồng ký với câu lạc bộ mẹ có những điều khoản nắm đằng chuôi nhé! Cần thì mẹ xóa hợp đồng, trả hết tiền, lôi con Đơn Đơn về, cho nó phụ trách tổ thành phẩm nhé! Chẳng qua mẹ thấy nó có năng khiếu mẹ chiều chứ không thì còn lâu nhé! Được rồi, để mai mẹ lên nói chuyện với ông chủ nhiệm câu lạc bộ, bồi hoàn tiền, cắt hợp đồng lôi nó về cho con.
Những tiếng "nhé" liên hồi kỳ trận tuôn ra ấy là lúc Zuân biết mẹ Thương sôi máu rồi. Kiểu này phải nhờ đến chị Doan thôi. Nếu để cho Đơn Đơn không được hát nữa thì Đơn Đơn khổ tâm lắm. Tuy hờn ghen, nhưng chưa bao giờ Zuân có ý nghĩ muốn Đơn Đơn rời nghiệp hát. Trong tình yêu anh sợ mất Đơn Đơn nhưng trong cuộc đời anh không làm điều ích kỷ.
Đêm hôm ấy, đợi mẹ ngủ say, Zuân lén sang giường chị Doan, rúc vào chăn, hỏi: Chiều chị đi đâu mà lâu thế? Doan kéo gối ra cho em: Chị lên sân bay Nội Bài giao nấm Linh Chi cho khách mang vào Sài Gòn, thế ở nhà có chuyện gì hả em? Zuân tóm tắt xong, dặn: Ở nhà có mỗi chị nói là mẹ nghe, chị lựa làm sao để mẹ đừng bắt Đơn Đơn bỏ hát. Doan nhỏm dậy: Cậu buồn cười thật, thế nhỡ cứ để nó ở đấy nó yêu người khác thì cậu tính sao? Zuân lật người nằm úp sấp chống tay lên cằm: Em chưa biết, nhưng dẫu thế nào chị cũng phải ngăn mẹ lại hộ em. Chị biết đấy, hồi còn bé có lúc Đơn Đơn quên cả ăn để hát, bây giờ mà bắt thôi chắc cô ấy buồn lắm! Doan nhìn em ngạc nhiên, cái thằng đến lạ, sợ mất người yêu nhưng lại sợ người yêu không được hát, thế có khỉn không cơ chứ! Đúng là đồ điên!
Cả hai chị em nằm im. Đã lâu Zuân mới lại nằm với chị, tiếng cánh quạt cắt gió rì rì, mùi hương lá sả từ tóc Doan thoảng nhẹ, gió biển thổi đập vào cánh phên đầu hồi như gõ nhịp. Có tiếng đứa nào ngủ mơ vọng từ gian ngoài vào. Giá cứ còn thơ bé thì vui biết chừng nào, chẳng cần nghĩ ngợi gì nhiều. Sáng dậy tập thể dục, đánh răng rửa mặt xong, sau đó ăn sáng rồi ai vào việc nấy. Mẹ Thương vào văn phòng hí hoáy sổ sách, bác Thùy chỉ huy các chị cân đóng sản phẩm; chị Doan thắp hương cho bố Lai xong ra bể vò quần áo, giặt giũ, chuẩn bị cơm trưa; mấy anh lớn kiểm tra buồng giống, tưới nấm, những đứa nhỏ hơn ra vườn nhổ cỏ trồng rau, theo sự chỉ uy của người đàn ông rào lại hàng rào.. Zuân và Thắng độc nhãn sắp xếp lại tư trang, giũ giường chiếu, quét nhà. Đơn Đơn không phải làm, nhưng nó không chịu ngồi yên một chỗ. Zuân lấy ghế bắt ngồi, nó không chịu, phụng phịu: Em hơn anh, có đủ tay, mặc kệ em, bây giờ anh hộ em, thế nay mai lớn anh đi lấy vợ em nhờ ai? Zuân củng yêu vào trán em: Anh ứ thèm lấy vợ, anh chỉ ở với Đơn Đơn thôi! Thật nhé? Đơn Đơn ngước mắt nhìn Zuân. Zuân chìa hai ngón tay ra dấu: Thật, anh thề! Mắt Đơn Đơn sáng rực, lấp lánh như sao, em cong ngón tay tí xíu ngoắc thề.
Ôi, tuổi thơ thanh bình, tuổi thơ hiền dịu, tuổi thơ thiên thần của những sinh linh bé bỏng. Ta đã từng có ngươi, ngươi là dòng sông mát rượi trong vắt như pha lê, cho tuổi thơ ta ùa vào ngụp lặn, hồn ngươi mơn man lên da thịt, bù đắp cho ta mọi thiếu hụt trên xác thân trụi trần. Thượng đế và Chúa trời quên thì chính ngươi mang cành ô liu và bình nước hồi sinh rưới lên những tâm hồn đơn côi, mang niềm tin nuôi dưỡng cho ta lớn lên cùng khát vọng..
Sao em không gặp Đơn Đơn mà nói thẳng ra? Doan hỏi. Không thấy Zuân trả lời Doan lật người quay lại, quờ tay vuốt má em, bàn tay vô tình chạm quệt vào dòng nước mắt. Zuân khóc thầm. Niềm xót xa tràn dâng. Zuân ơi, em có biết không, lúc chưa có anh Bình, em là người chị yêu từ tấm bé, đã có lúc chị ước ao được lấy em làm chồng. Có những đêm chị mơ em là chàng trai cõng chị dạo chơi trên bãi biển Ninh Thuỷ, tiếng sóng vỗ bờ xa, hàng phi lao rì rào, con tầu trắng chứa đầy ước mơ từ từ cặp bờ đón chúng ta đi. Nơi đó, không có tiếng rên van của những nỗi đau mất mát, không còn những đắng cay, những đôi mắt lộn tròng, những cặp chân xơ xướng, nhũn bại, những thân hình xiêu vẹo, những con mắt vô hồn lạc thần, những tiếng cười vô cảm, hai đứa sẽ bù cho nhau những thiếu hụt, em và chị sẽ không còn những khổ đau, những băn khoăn tiếc nuối..
Bỗng Zuân vùng ngồi dậy, lấy tay lay vai chị: Chị hứa với em sẽ không để chuyện ấy xảy ra chứ? Doan lưỡng lự chưa biết trả lời sao, hai ngón tay Zuân như gọng kìm xiết vào vai Doan: Chị hứa với em đi, dẫu Đơn Đơn không yêu em thì chị vẫn phải bảo mẹ Thương đừng bắt cô ấy bỏ hát ca trù.
Ôi em tôi! Doan kéo đầu Zuân xuống ngực mình ghì riết. Bờ vai Zuân rung từng chập, miệng anh thảng thốt lắp bắp: Chị.. Chị.. Chị nhớ nhé! Chị nhớ lời em dặn chị nhé, đừng để Đơn Đơn không được hát. Những giọt nước mắt từ hai khoé mắt Zuân tuôn tràn trên bờ vai chị. Bất giác Doan nâng mặt Zuân lên hôn tới tấp: Chị hứa mà Zuân ơi, chị hứa mà, đừng khóc nữa, chàng trai của chị.
Hôm ông Trùm Thịnh cho xe đưa Đơn Đơn về thành phố Ninh Hải, Jim cũng có mặt. Trong lúc Zuân chẳng biết làm gì với thân hình độc thủ và bàn tay hai ngón của mình, thì gã trai ngoại quốc xăng xái bê các thứ lên xe. Zuân cay đắng, tủi phận vì lép vế; bên chàng thanh niên ngoại quốc, anh là kẻ nhỏ nhoi, bất lực. Zuân muốn tìm lý do để gây sự, nhưng gã ngoại quốc kia dường như không thèm để ý, gã dùng đôi tay khỏe mạnh nhấc bổng chiếc xe máy của Đơn Đơn lên thùng xe ô tô, rồi ào tới bế thốc Đơn Đơn lên ca bin và không quên đặt một nụ hôn vào má. Giận gã, anh hờn lây cả Đơn Đơn, anh không thích thái độ nửa vời. Lẽ ra Đơn Đơn phải chửi mắng, nhổ nước bọt, tát vào mặt gã kia mới đúng. Đằng này, hai gò má Đơn Đơn ửng hồng thẹn thò, đôi tay chống cự, tránh né yếu ớt, cảm giác như có vẻ thuận tình. Vô hình chung cô như người đổ dầu thêm vào lửa.. Zuân đùng đùng ra ngõ gọi xe ôm về trường.
Từ ngày về thành phố Ninh Hải, Đơn Đơn ở luôn đình Ngang, ngôi đình thở danh tướng Trần Nguyên Hãn, và đó cũng là nơi sinh hoạt của câu lạc bộ Hàn Giang Ca Quán. Trái với mọi công việc, Đơn Đơn nghỉ vào ngày thường, còn thứ bảy, chủ nhật cô cùng các ca nương biểu diễn phục vụ khách.
Câu lạc bộ Hàn Giang Ca Quán không chỉ là nơi vui chơi, cửa đình Ngang từ lâu đã trở thành nguồn thu nhập chính cho câu lạc bộ. Thời nào cũng vậy, tất cả mọi nghề đều có thể trở thành hàng hóa. Món ăn tinh thần giờ đây như mốt, tiếng hát ả đào của các ca nương được các chính khách và dân sành chơi coi là đặc sản.
Đơn Đơn bước vào nghiệp ca kỹ, chấp nhận sự trả ơn đương nhiên với những người bỏ tiền gửi cô đi học. Nhưng cô nhớ Hà Nội, nơi có biết bao kỷ niệm gắn bó cùng cô trong những ngày còn ở Giáo Phường Thăng Long. Và cô nhớ cả Zuân nữa, thi thoảng thứ bẩy, chủ nhật anh về, nhưng anh về thẳng trại nấm Linh Chi mà không tạt vào thăm, dù nơi cô ở ngay gần bến xe. Cô biết anh ghen hờn với chàng trai người Mỹ. Đơn Đơn như người ở giữa, cô biết làm sao khi anh đau khổ, còn những kỷ niệm về chàng trai ngoại quốc kia lúc nào cũng ám ảnh tâm trí cô.
Jim (tên chàng thanh niên người Mỹ) vốn là sinh viên trường đại học, khoa Nghiên cứu phương Đông. Chàng đã từng đi nhiều nước như ấn Độ, Trung Quốc, Lào, Cămpuchia, Thái Lan.. Đến đâu chàng cũng bỏ công tìm hiểu nền văn hóa của các dân tộc. Chàng có thể say sưa nói hàng giờ về nên nghệ thuật kiến trúc đến Ăng Co, Chùa Vàng, Cánh Đồng Chum, hay trầm trồ ca ngợi điệu dân vũ Chăm Pa nổi tiếng và vẻ đẹp kiêu sa của những cô gái Lào. Và khi tới Việt Nam, lần đầu tiên được nghe ca trù trên sông Hương, chàng đã không cưỡng nổi được sự mê hoặc đến hút hồn của thứ âm nhạc kỳ diệu, mang âm hưởng cao sang, lịch lãm - một loại hình âm nhạc kiểu thính phòng. Và, dưới bàn tay điêu luyện, tài hoa của các nhạc công, thanh âm của từng lời trống mở giục giã thiết tha, hòa với tiếng đàn réo rắt, luyến láy, quyến cuộn cùng nhịp phách giòn tan, lay lả rồi vút lên là tiếng hát với những giai điệu mượt mà, mang bản sắc rất riêng, gây cho chàng ấn tượng không dễ gì quên.
Jim hăm hở lao vào tìm hiểu. Khi ra tới Hà Nội, chàng đến Viện Văn hóa, lục tìm trong thư viện đọc các tài liệu viết về nền văn hóa Việt. Rồi chàng lặn lội đến những địa phương khảo cứu, gặp gỡ các nghệ nhân. Càng tìm tòi chàng càng đam mê. Như kẻ đãi cát tìm vàng, thể loại ca trù như một điểm sáng chói lòa giữa hàng trăm làn điệu dân ca cổ trong kho tàng âm nhạc của một quốc gia có truyền thống văn hóa lâu đời. Cứ vậy, chàng trằm mình trong làn điệu ca trù. Từ ngôn ngữ âm nhạc đến những tiết tấu cộng hưởng, khoan nhặt có sức khêu gợi, lôi cuốn lạ lùng. Khi làn điệu ca trù được cất lên từ môi người con gái duyên dáng, yểu điệu trong trang phục thuần Việt; tiếng hát du dương, trầm bổng, thánh thót, buông lơi, hòa quyện, khắc khoải, thể như sự tỏ bày những nổi niềm đau đáu, mang tâm tư tình cảm của một dân tộc yêu tự do, khao khát hòa bình. Sự trải bày không khuôn lệ, mềm yếu, ủy mị, mà lời ca như tiếng lòng nhắn nhủ, gửi gắm, thổ lộ tâm tư làm say đắm lòng người..
Đối với Jim, ca trù như một sự phát hiện. Chàng không lý giải nổi, vì sao một đất nước đã từng đã trải qua nhiều cuộc xâm lược, đã từng bị ví là "man di, mọi rợ" mà xuất hiện một thứ âm nhạc cao sang, huyền diệu, ma mị đến như vậy? Chàng tự ví âm nhạc ca trù như viên ngọc hoàn mỹ được tìm ra giữa chốn bùn lầy nước đọng, như bông hoa rực rỡ tỏa hương thơm ngào ngạt trên cánh dòng khô cạn. Nhưng vì ngôn ngữ bị hạn chế cùng với những tài liệu dịch còn thiếu. Vì vậy chàng quyết chí tầm sư học đạo. Chính niềm say mê ấy đã dẫn chàng tới những đêm hát của Giáo phường Thăng Long.
Ông Trùm Thịnh rỏ ra là người mến khách. Khi Jim đặt vấn đề muốn lấy đề tài ca trù làm luận văn tốt nghiệp và ngỏ ý muốn nhờ ông giúp đỡ, ông đồng ý. Nhưng khi nghe yêu cầu cụ thể của chàng thanh niên ngoại quốc ông Trùm Thịnh ngạc nhiên: Ca trù soạn ra là để dành cho ca nương trình bày, chứ đàn ông mấy ai hát, mà cậu lại là người ngoại quốc, tiếng Việt còn chưa sõi, hát sao nổi? Jim ôn tồn giải thích: Tôi muốn biết để hiểu nội tâm của từng làn điệu mỗi khi ca nương trình bày.
Lý do của chàng khá thuyết phục, ông Trùm Thịnh gặp hỏi Đơn Đơn, nàng từ chối khéo: Cháu chuẩn bị về Hải Ninh rồi. Mà Giáo phường Thăng Long thiếu gì ca nương có kinh nghiệm sao không để người ta dạy mà lại bảo cháu? Ông Trùm Thịnh nhăn nhó: Bác nói rồi, nhưng anh ta không chịu. Cứ một, hai nhất quyết yêu cầu phải là cháu - Rồi ông gãi đầu. Gãi tai - Cháu nể tình bác, thông cảm với hoàn cảnh câu lạc bộ, mấy khi có điều kiện. Về các khoản chi phí anh ta đồng ý thanh toán cả, còn việc cháu lưu lại một thời gian, bác sẽ nói với ông chủ nhiệm Câu lạc bộ Hàn Giang Ca quán - Rồi ông nói thêm - Những người ngoại quốc như chàng trai này rất hiếm. Nhân dịp này mình dạy cho họ hiểu và biết về âm nhạc của cha ông ta.
Đơn Đơn ngại, mỗi khi nghĩ tới những lần anh ta bồng mình lên tay và áp môi vào má, trong nàng lại xuất hiện một tình cảm khó tả, tạo rực và rất khó quên. Nhưng điều Đơn Đơn ngại hơn cả chính là Zuân. Không hiểu anh sẽ nghĩ sao khi mình ở lại Hà Nội, không phải vì Zuân, mà lý do vì anh chàng người ngoại quốc kia? Nhưng nếu nàng từ chối sẽ trở thành người khiếm nhã, vì vậy nàng nhận lời, mặc dù bị Zuân phản ứng ra mặt và công khai tẩy chay bằng cách không lui tới Giáo Phường Thăng Long nữa.
Đơn Đơn không thanh minh và nàng cũng không trách, tuỳ anh ấy thôi, đã yêu nhau sao không có lòng tin? Chuyện giữa Jim và Đơn Đơn nào đã có gì đâu mà Zuân cứ hay suy diễn. Không gặp thì thôi nhưng hễ gặp là bóng gió xa xôi. Đơn Đơn không chịu được "máu Ô Ten Lô" và những lời báng nhạo của Zuân. Ai lại thế bao giờ, người ta từ xa xôi đến đây, câu lạc bộ cần tăng thu nhập, và theo ý của ông Trùm Thịnh, cần quảng bá cho người nước ngoài hiểu được vốn quý của nền văn hóa dân tộc Việt.
Những đêm biểu diễn từ ngày có Jim, khách đến đông hơn, sự ngộ kỳ và tiếng roi chầu của chàng giữ nhịp cho canh hát thường đạt hiệu quả cao. Ông Trùm Thịnh hài lòng lắm. Thoạt đầu, Đơn Đơn sợ sự dạn dĩ của Jim, nhưng rồi quen dần, vả, cô không muốn ý riêng của mình làm tổn hại tới công việc chung. Và không hiểu bắt đầu từ bao giờ cô cảm mến chàng, sự không đừng của tâm hồn ca nương trước một chàng trai hào hoa phong nhã, nhiệt tình, sôi nổi, dẫu tình cảm của nàng vẫn nghiêng về Zuân, song, hình ảnh chàng trai người Mỹ thường lấp lóa trong trái tim người thiếu nữ.
Về phần Jim, ngay lần đầu gặp Đơn Đơn, chàng đã ngỡ ngàng trước sắc đẹp lộng lẫy và tiếng hát như hút hồn của nàng. Cùng với sự ngỡ ngàng, chàng xót xa bởi cảnh ngộ. Người thiếu nữ mặt hoa, da ngọc, ngồi trên vạt chiếu điều, trong trang phục người con gái thời Lý, trông duyên dáng, cao sang bao nhiêu, thì đôi chân teo tóp khuất sau làn vải cùng những "bước đi" lê lết của nàng như trì xiết trái tim mẫn cảm của chàng.
Chàng nhớ đến những câu chuyện của cha và các bạn cha kể lại. Họ nói về những lần lái máy bay đi oanh kích, bầu trời gào rú tiếng động cơ phản lực, và dưới kia, những cánh rừng rên xiết, run rẩy trong bom đạn và những cơn mưa hóa học. Cha cười hô hố và cả đám người kia cũng cười hô hố. Họ ăn và uống, thao thao nói về những trận đánh như ôn lại những kỷ niệm vui. Lúc bấy giờ chàng còn nhỏ, thấy họ cười, chàng cười theo và kiêu hãnh nhìn những tấm huân chương đeo trên ngực cha và lấy đó là niềm tự hào.
Nhưng giờ dây, khi tận mắt nhìn, tận tai nghe những câu chuyện nàng kể về đời sống của những đứa trẻ trong trại Nấm Linh Chi, chàng rùng mình khiếp hãi. Đó là ý Chúa hay bởi "người Mỹ chiến tranh" lấy xâm lược coi là chân lý? Chân lý thuộc về kẻ mạnh. Nhưng chân lý nào hàn gắn được những vết thương đau?
Có biết bao câu hỏi luẩn quẩn trong đầu chàng. Hình ảnh những miền đất chàng đi qua hiện lên trong tâm trí. Những cánh rừng bao năm còn xác xơ vàng úa; những miền đất màu mỡ còn rơi rớt lại hàng trăm ngàn quả bom mang nhãn hiệu USA. Thứ thương hiệu chàng đã từng tự hào và kiêu hãnh. Và đây nữa, những đứa trẻ tật nguyền, dị dạng, trên thân xác chúng khi sinh ra đã không hoàn nguyên hình hài. Chúa vô tình hay cố ý để thức tỉnh thế gian? Chàng thấy xấu hổ và ghê tởm. Có cái gì ứ nghẹn nơi cổ họng. Chàng vùng dậy trong đêm, cố xua đi những giấc mơ khủng khiếp.
Và mỗi lúc như vậy, chàng lại tìm đến Chúa. Thứ ảo ảnh mơ hồ chàng tôn thờ như mục đích cứu rỗi. Từ sâu thẳm, nơi Chúa ngự như mách bảo, tâm thiện và đức hy sinh, trách nhiệm gột rửa, hàn gắn, bù đắp thuộc về những kẻ có lương tâm. Chàng nguyện làm "tôi" của Chúa, muốn chứng minh điều ngược lại con đường cha mình đi và lý tưởng của "người Mỹ chiến tranh" đã theo. Chàng tự nhủ, bằng niềm tin và lòng dũng cảm của một tín đồ, hằng mang đức tin làm sáng danh ý Chúa, chàng mong hòa đồng với nơi mình đã tới, mong lắng dịu bớt nỗi khổ đau của những con người tận khổ. Và hơn nữa, dẫu chưa lý giải nỗi tình cảm, nhưng thẳm sâu trong tâm khảm, hình ảnh Đơn Đơn luôn hiện lên ngự trị trái tim chàng.
Jim tìm đến nơi Đơn Đơn trọ. Đó là một căn phòng nhỏ dưới tầng một ở khu tập thể cũ phía sau phố Thuỵ Khuê gần hồ Tây. Hôm đó Jim không đi ô tô mà ngồi xích lô tới, trên tay cầm một bó hoa rất tươi. Đơn Đơn ngạc nhiên: Ôi, Jim, sao anh tìm được nhà em? Jim áp tay lên ngực trái, trịnh trọng trao hoa: Tặng em. Mặt Đơn Đơn đỏ bừng, đây là lần đầu tiên nàng được một người con trai tặng hoa. Nàng đưa mũi hà hít: Đẹp và thơm quá, cảm ơn anh. Nhưng ai cho anh địa chỉ nơi em ở? Jim cúi sát vào tai nàng thì thầm một câu rất mùi mẫn - Bí mật, anh đi theo tiếng gọi của trái tim. Đơn Đơn cười khanh khách, cho rằng Jim đùa.
Jim đưa mắt nhìn quanh, căn phòng nơi Đơn Đơn ở tồi tàn, tường loang rêu mốc, nền nhà ẩm thấp, ngoài chiếc giường đơn cũ kĩ, có một chiếc tủ gỗ nhỏ đã long mộng, không ti vi, đài đóm, Jim lắc đầu: Em ở đây không tốt, có hại cho sức khoẻ, đường đi lối lại khó khăn. Nếu em đồng ý, anh sẽ thuê cho em một phòng ở khách sạn? Nàng không muốn nói hoàn cảnh của câu lạc bộ còn eo hẹp nên chỉ có điều kiện cho nàng như thế. Nàng đáp: Không cần đâu, em chỉ ở thêm ít ngày nữa thôi mà. Jim đã nghe ông Trùm Thịnh nói về hoàn cảnh của Đơn Đơn. Nhưng chàng không ngờ người có giọng hát hay và xinh đẹp như nàng mà phải ở một nơi tồi tàn như vậy.
Jim móc túi lấy ra một chiếc điện thoại di động nhỏ màu ánh kim xinh xắn đưa cho nàng: Tặng em. Đơn Đơn chau mày, nàng không thích sự đường đột này. Vô cớ đi nhận quà của một người ngoại quốc, mọi người biết liệu sẽ nghĩ thế nào? Chàng trai ngoại quốc hỏi: Sao, em chê à? Không biết giải thích thế nào, nàng chỉ tay vào bó hoa, từ chối khéo: Cảm ơn anh, hoa em nhận - Nàng đẩy hộp quà về phía Jim - Còn điện thoại, em không nhận đâu. Jim kêu lên: No.. No.. - Rồi lại thốt lên bằng tiếng Việt - Tiền không đắt mà..
Nghe Jim phát âm ngược Đơn Đơn phì cười. Mặt chàng đỏ bừng, bờ cổ gân guốc nổi từng sợi, vẻ bực dọc vì không tìm được từ để giải thích. Và rồi như muốn nàng hiểu mục đích, Jim lấy chiếc điện thoại của mình ra đặt sóng đôi, chỉ vào cái này rồi chỉ sang cái kia ý ra điều giải thích với nàng: Đơn giản chỉ là vấn đề liên lạc.
Nhìn điệu bộ Jim, Đơn Đơn cố nén. Trông chàng lúc này không khác mỗi lần học hát; mồm lúc tròn vo, lúc méo xệch, cần cổ vươn, mặt gân guốc, đỏ lừ, mắt lim dim, đầu lắc lư say sưa bắt chước theo nàng trông thật ngộ. Tuy vậy nàng thừa nhận trí thông minh và sự tiến bộ của chàng. Thấy nàng vẫn im lặng, Jim buông hai chiếc điện thoại xuống, nằm kềnh ra giường kèm theo một câu nói tỏ ra cương quyết: Đơn Đơn không nhận, Jim không về!
Đơn Đơn bật cười khanh khách, nàng vui vì hành động ngây ngô và thái độ liều lĩnh của chàng. Nàng mặc kệ, với chiếc lọ, dỡ bó hoa cắm vào. Chợt ngoài ngõ có tiếng người lao xao, nàng quay lại túm lấy áo Jim: Dậy, dậy, dậy đi, có người! Jim vẫn ỳ ra, chàng giãy giãy, hất tay ra chiều hờn giận, nhích ra xa, lật nghiêng người nằm vào tận góc, mặt quay vào phía trong. Đơn Đơn cuống quýt, nhoai người túm cánh tay chàng kéo: Ơ, cái anh này, buồn cười thật đấy. Dậy đi, có người vào kia kia - Nàng nhổm người lên dùng hai tay lôi Jim - Dậy đi, không người ta nhìn thấy thì sao? Jim nằm nguyên tư thế, miệng đáp: Em không nhận, anh không dậy. Đơn Đơn nhìn qua cửa sổ, có mấy người đi qua, đành xuống nước: Được rồi, em nhận.. Em nhận, thế đã được chưa? Nào, dậy đi anh.
Chỉ chờ có thế, Jim nhoẻn cười lật người lại, khiến Đơn Đơn mất thăng bằng ngã nhào đè lên người chàng. Nàng lọt thỏm trong đôi tay rắn chắc của Jim. Hai khuôn mặt kề nhau, hơi thở nồng nồng phả lên da mặt nàng, đôi mắt chàng biếc xanh như nước biển đắm đuối, chứa đầy dục vọng ham muốn như xuyên suốt người nàng. Trong khoảnh khắc, nàng cảm nhận phần dưới cơ thể người đàn ông căng cứng, nóng hổi truyền sang. Chút cảm giác đê mê xâm chiếm, nàng thấy mình bải hoải, đờ đẫn, mắt lim dim chờ đón.. Jim khẽ khàng đỡ khuôn mặt xinh đẹp, vươn bờ môi hứng lấy môi nàng, thì thầm: Anh yêu em.
Lời tỏ tình của Jim khiến nàng bừng tỉnh, Đơn Đơn mở choàng mắt ra, hoảng hốt cưỡng lại, lấy tay chống vào ngực Jim đẩy ra. Nhưng khốn thay, chân nàng không cử động nổi, mà đôi bàn tay kia cứ từ từ ép xuống. Nàng lắc đầu tuyệt vọng, thảng thốt yếu ớt: Không.. Đừng.. Đừng.. Anh. Nước mắt nàng trào ra lã chã rơi lên đôi môi chàng mặn chát.
Jim bất ngờ, chàng không hiểu những giọt nước mắt kia là vì sao? Khác hẳn với những người phụ nữ chàng đã từng gần gũi. Khuôn mặt Đơn Đơn vẻ như đau khổ nhiều hơn là vui sướng. Jim đỡ nàng lên. Thay cho sự mãnh liệt, hối thúc là sự ân hận và ngượng ngập: Xin lỗi, nhưng anh yêu em.
Đơn Đơn vuốt lại tóc, đưa tay kéo ống quần che đôi chân teo tóp. Nàng nói: Có phải người Mỹ thường hay xử sự thế với phụ nữ phải không? Câu hỏi của nàng làm chàng thêm ngượng, mặt Jim đỏ bừng, chàng không biết trả lời sao, lúng túng, hối hận. Nhìn vẻ mặt thành khẩn của Jim, nàng nhẹ nhàng nói: Con gái Việt Nam chúng em không thích thế. Jim đưa tay nắm tay nàng: Anh biết làm thế là không tốt, nhưng anh yêu em. Yêu? - Nàng cười khẩy - Anh nói lời yêu sao mà dễ? Jim nắm tay nàng: Anh thật lòng mà em. Nàng kéo ống quần lên chỉ vào đôi cẳng chân nhũn nhão, vô cảm: Anh không ngại em bị tàn tật ư? Jim ngước mắt nhìn nàng, hai bàn tay ấp lên đôi chân nàng ve vuốt: Thân xác em tàn tật nhưng em là người con gái xinh đẹp và tràn đầy nghị lực. Em có biết anh yêu em ngay từ lần đầu tiên nghe em hát không?
Đơn Đơn im lặng, nàng bâng khuâng vì lời tỏ tình của chàng trai người Mỹ. Yêu thích tiếng hát của nàng thì nhiều người đã nói. Nhưng yêu thân xác nàng thì đâu phải kẻ nào cũng có lòng dũng cảm? Ngay như Zuân thôi, anh chưa bao giờ tỏ ra yêu nàng với tình cảm của một người đàn ông. Khi ở bên Zuân, nàng thấy mình an toàn, thứ an toàn độ lượng, bao bọc, gìn giữ, ân cần thể như một người anh đáng kính với đứa em nhỏ bé. Nhiều lúc nàng có cảm giác Zuân đối với nàng như sự ghép đôi không hơn không kém.
Kể từ khi gặp Jim, sâu thẳm trong tâm hồn, nàng nhận ra, nàng cần ở người đàn ông sự dạn dĩ, mãnh liệt, cuồng khát hơn cả sự chở che. Và cái đó thì Jim lại rất sẵn. Mỗi lần gặp, ngoài tư chất thông minh, dí dỏm, tỏ ra hào phóng, bặt thiệp, trong đôi mắt mầu xanh kia chứa đựng một ngọn lửa hoang dã, luôn sẵn sàng bùng cháy..
Nàng bảo Jim - Dù sao em cũng cảm ơn anh. Nhưng em không phải là người xứng với anh. Jim hỏi: Vì sao chứ? Đơn Đơn rút chân lại, điềm tĩnh nói: Vì sao ư? Jim ơi, giữa chúng ta là khoảng cách, anh là người nước ngoài lại có học vấn, em chỉ là một ca nương hát ở nhà trò, chuyên mua vui cho khách. Jim nhìn nàng ngạc nhiên: Sao em tự hạ thấp mình như thế. Em có biết nói như vậy chính là hạ nhục nền văn hóa của dân tộc mình hay không? Anh cứ tưởng đó chỉ là những luận điểm của một số người còn mang nặng tính cổ hủ của thời phong kiến xa xưa. Nhưng anh không ngờ đó lại chính từ miệng em nói ra - Giọng chàng trở nên sôi nổi - Em có biết không, trước khi sang Việt Nam, anh đã từng nghĩ, mình sẽ tới một đất nước nghèo nàn, khốn khổ với những tộc dân lạc hậu vừa thoát khỏi thời kỳ ăn lông, ở lỗ. Nhưng khi tới đây rồi, anh đã phải thay đổi nếp nghĩ. Một dân tộc dám đứng lên tìm tự do cho chính mình, chiến đấu bằng lòng yêu nước vô hạn. Có bề dày lịch sử hàng ngàn năm và một nền văn hóa vô cùng phong phú. Và rồi anh tìm thấy trong cái kho tàng văn hóa vĩ đại ấy, một thứ âm nhạc riêng biệt, mang bản sắc bác học, và có thể nói, ca trù không chỉ là riêng của dân tộc Việt Nam, mà nó phải được coi là di sản quý báu của cả thế giới. Còn em - Chàng đột ngột nắm vai nàng lắc lắc - Em lã người kế thừa sự tinh tuý ấy. Không có những ca nương như em, liệu vốn âm nhạc kỳ diệu kia có còn tồn tại nữa hay không?
Cảm động trước những lời Jim nói, nàng biết, ngay ở Việt Nam, có nhiều người vẫn coi ca trù là thứ xa xỉ, và ca nương hát nhằm mua vui cho khách làng chơi. Cũng có thể - Nàng nhớ ông Trùm Thịnh có lần đã nói - Ngày xưa, ca trù là một loại hình âm nhạc giải trí đặc quyền dành cho vua, chúa trong cung đình. Khi biến thể, ca trù thành một "món ăn" cho kẻ giàu có và dân sành chơi. Bởi nhận thức chưa đầy đủ, người ta coi danh cầm và đào nương là hạng "xướng ca vô loài", bị miệt thị là món đồ chơi, mua vui. Mấy ai nghĩ, để trở thành một danh cầm có tiếng, các kép đàn phải dày công luyện tập, có kỹ thuật điêu luyện, am tường bài bản, hiểu rõ niêm, luật; còn người cầm roi chầu, dáng dấp phải đĩnh đạc, ung dung, phong lưu, đài các, thông thuộc từng khổ đàn, khổ phách; thanh lọc được âm sắc trầm, đục, thanh sảng, réo rắt của tiếng đàn, tiếng phách, thuần thục từng chiêu thức, khen, phạt công thực xuyên tâm, song châu, liên châu, hạ mã, lạc nhạn.. Còn các đào nương được tuyển chọn đều là người có tài, có sắc - Ông Trùm Thịnh liếc nhìn Đơn Đơn nói tiếp - Nhưng tài, sắc mà không khổ công trau luyện miệt mài, thì đâu có thể biểu đạt hết cái đẹp, sự sang trọng, cao thanh của thứ âm nhạc đặc trưng, độc nhất, vô nhị của dân tộc ta? - Ông Trùm Thịnh hạ giọng - Cháu thấy đấy, trên đất nước ta hiện đã có nhiều nơi phát triển loại hình âm nhạc này, nhưng có phải câu lạc bộ hay giáo phường nào cũng có những ca nương có giọng hát hay? Cũng hát đấy, mà như "vẹt nói theo" "chim tập hót". Vì vậy bác muốn khuyên cháu điều này: Muốn làm một ca nương giỏi, ngoài tiếng phách chau chuốt, nhuần nhuyễn, còn phải có giọng hát mang phong cách riêng, độc đáo, và phải hát bằng cả trái tim mình, gửi gắm tâm tư vào từng câu, từng chữ, để tôn vinh và thể hiện hết được thứ âm nhạc kỳ diệu này..
Ông Trùm Thịnh còn giảng giải cho Đơn Đơn nhiều điều. Và, nàng đã không phụ công ông. Nhưng quả thực nàng hiểu, ai có vào nghề hát ca trù mới thấy gian nan vất vả. Nếu trước đây, nàng hát theo bản năng tự thành, thì khi đến học ở Giáo phường Thăng Long, nàng thêm hiểu: Trong ca trù, tiếng hát của ca nương quyết định sự thành, bại cho một canh hát. Và để có được âm sắc riêng, ca nương phải hát bằng chính cảm xúc của mình, thông qua thân phận con người được biểu cảm trong từng lời ca từ. Khác hẳn với các ca sĩ hát nhạc mới, ca nương khi biểu diễn ca trù, tay dạo phách, mồm nhả chữ, miệng không há to, ém hơi trong cổ, mặt tịnh không biến sắc, chỉ một chữ "ư" ngân thế nào, luyến láy ra sao, lúc nào buông, nhả, lúc nào khoan, nhặt mà vẫn phải "tròn vành rõ chữ" khiến người nghe rạo rực, tâm thế lâng lâng, hoài niệm thả hồn đắm chìm trong khúc điệu du dương..
Thấy Đơn Đơn im lặng, chàng nói: Đơn Đơn ơi, ngoài tình yêu, anh còn muốn làm được cho em những điều hơn thế nữa. Nàng hỏi: Anh có thể nói cho em nghe được không? Jim đáp: Nếu được em chấp nhận, anh sẽ xin chính phủ hai nước đưa em sang Mỹ. Sang Mỹ? - Đơn Đơn nhướn mắt nhìn chàng: Em sang đấy để làm gì? Jim nói: Ngoài việc anh muốn em giúp anh là luận điểm sống cho bản luận văn tốt nghiệp Tiến sĩ; anh còn muốn đưa em đến những bệnh viện tân tiến, có những giáo sư, bác sĩ giỏi, khám và chữa trị cho em. Đơn Đơn nghe chàng nói, nàng hồ nghi: Anh nói sao? Chân em chữa lành lặn được ư? Jim ngước nhìn lên cao, nàng có cảm tưởng ánh mắt vọng cầu của chàng xuyên thấu những lớp bên tông dày đặc kia để vươn tới tận bầy trời xanh thẳm. Chàng đưa tay làm dấu, giọng nói êm ru: Xin Chúa hãy vì người con yêu mà xóa đi những hoài nghi, mặc cảm. Con nguyện sẽ cùng nàng dắt tay nhau tới thánh đường thành tâm cầu nguyện - Chàng nắm tay nàng tha thiết - Đơn Đơn ơi, em có nghe những lời khẩn cầu của anh với Đức Chúa nhân từ không? Anh hằng tin Chúa lòng lành sẽ động lòng trắc ẩn, Người sẽ ra tay cứu giúp, và đôi chân em sẽ được lành lặn bởi phép màu từ nơi Chúa. Hãy đi cùng anh em nhé!
Đơn Đơn bất ngờ, điều đó ngoài sức tưởng của nàng. Sang Mỹ ư? Đâu có được, còn đức tin, đâu có thể! Từ trước đến nay, mẹ Thương và những người trong trại nấm Linh Chi chưa bao giờ coi nước Mỹ là bạn. Đối với họ, nước Mỹ là kẻ thù không đội trời chung. Và đức tin của những người trong trại nấm Linh Chi là đức tin của những người khổ hạnh, thèm ước một phép màu thay đổi. Nhưng đã bao năm qua đi, chiến tranh dẫu xa rồi, nhưng vết thương này chưa nguôi, chưa kịp lên sẹo, thì vết thương kia đã bắt đầu rỉ máu, lở loét. Bao hình hài sinh ra dị kì, thiếu hụt. Họ sống vật vã, mang mối thù truyền kiếp nối đời nọ tới đời kia. Những dị tật mang trên người họ không phải chính do những người Mỹ gây ra đấy thôi! Vậy mà họ vẫn chối từ trách nhiệm..
Không thể được, Đơn Đơn thở dài: Không được đâu, giữa chúng ta là chiến tuyến. Em và anh chỉ có thể làm bạn. Tưởng nói thế Jim sẽ hiểu, nhưng ngược lại, anh chàng người Mỹ tuyên bố xanh rờn trước khi tạm biệt: Quá khứ là quá khứ, thế giới hiện nay không còn đối đầu như trước nữa và đã chuyển sang đối thoại rồi. Anh tin sắp tới quan hệ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam sẽ được cải thiện hơn nữa. Còn về tình cảm của anh và em. Không ai cấm được anh yêu em, trừ Chúa!
Jim đi rồi, căn nhà trở lên lạnh lẽo, trống trải. Ngoài trời gió chuyển mùa, mây vần vũ, màn trời xám xịt rồi lác đác có tiếng mưa lộp độp ném xuống mái tôn. Đơn Đơn lết ra kéo cánh cửa che gió. Một tia chớp loé lên kèm theo tiếng sét dữ dội, điện phụt tắt, cả gian phòng tối om. Đơn Đơn mò mẫm tìm nến rồi bật diêm châm, ngọn nến lay lả yếu ớt chực sáng, chực tắt. Tiếng mưa mau dần kèm theo những tiếng sấm rền vang. Nàng ngồi vậy với ngọn nến trong gian phòng cô quạnh, lòng bâng khuâng một nỗi niềm khôn tả. Dường như những gì Jim để lại, tác động đến trái tim mẫn cảm của nàng. Nàng cầm chiếc máy di động mân mê rồi bật mở. Hình ảnh Jim hiện ra với khuôn mặt tuấn tú và cái nhìn đau đáu. Nàng xoa ngón tay út lên màn hình cảm ứng, mái tóc vàng tơ lay động, ánh mắt màu xanh chấp chới và môi chàng hé mở. Trái tim nàng hình như run rẩy, từ sâu kín cơ thể nàng niềm khát khao, thèm nhớ trỗi dậy. Vô thức, nàng ngả đầu xuống gối, áp chiếc máy di động lên bầu ngực tròn trịa, day nhè nhẹ như cố tìm lại hơi thở nồng nàn và hành vi cuồng si bạo liệt..
Nửa đêm nàng thức giấc, ngoài trời mưa vẫn rả rích, ngọn nến tắt từ bao giờ không biết nữa. Có tiếng nước róc rách chảy. Đơn Đơn bật diêm tìm cây nến khác thắp lên khỏa ánh sáng nhìn. Nước dồn ứ tràn qua khe cửa, dâng lên chạm mép giường. Nàng hoảng hốt ngồi nhích vào, tay chạm chiếc điện thoại. Nàng cầm lên mở ra, anh chàng người Mỹ hiện ra với nụ cười tươi rói, Đơn Đơn ngần ngừ không biết có nên gọi cho Jim không. Nàng xem đồng hồ: Bây giờ mới ba giờ sáng. Chắc giờ này anh đang ngủ. Nàng buông chiếc điện thoại xuống giường, lặng lẽ nhìn ngọn nến tỏa sáng trong đêm. Không hiểu sao nàng rất muốn Jim nghĩ tới mình. Đúng lúc ấy, tiếng chuông điện thoại reo. Nàng mở máy, không kịp hỏi, giọng gấp gáp: Anh Jim, nước ngập vào nhà em rồi. Jim đáp: Em cứ bình tĩnh, anh sẽ đến ngay!
Jim gọi tắc xi, tới đầu đường Hoàng Hoa Thám, chàng bảo người lái xe dừng, dặn chờ rồi cầm đèn pin đi xuống. Mưa vẫn rất to, đường phố Thuỵ Khuê trắng nước, rác rưởi trôi lềnh phềnh. Dân phố đổ ra í ới, hò nhau chạy lụt. Jim bì bõm lội vào ngõ, nơi Đơn Đơn ở, nước đã ngập tới cửa sổ, chiếc xe máy của Đơn Đơn chìm nghỉm, trơ hai cùi ghi đông trên mặt nước trông như sừng hươu. Jim hoa đèn pin, gọi: Đơn Đơn, em ở đâu? Đơn Đơn vui mừng đáp: Anh Jim, em ở trong này. Chàng đẩy cửa, nhưng vướng then trong. Chàng lấy người ảy mạnh, bản lề bung một mảng, nước bên ngoài tràn vào. Đơn Đơn co ro ngồi trên nóc tủ, chàng dang tay ôm lấy nàng, xót xa: Có anh đây rồi, em dừng sợ. Không biết vì đôi tay ấm nồng hay bởi lời nói kia mà nước mắt nàng ứa ra vì cảm động..
Từ hôm đấy Jim kiên quyết giữ nàng lại khách sạn nơi chàng ở, cho tới khi Đơn Đơn về Ninh Hải, chàng xin phép ông Trùm Thịnh về theo.
Từ thành phố Ninh Hải về trại Linh Chi gần ba mươi cây số, sáng thứ hai Đơn Đơn đi xe máy về trại nghỉ bù thì chiều hôm trước Zuân nhẩy xe khách lên Hà Nội về trường. Rất ít khi hai người gặp nhau. Hồi đầu mẹ Thương không biết tình cảm rạn nứt của hai người, trêu: Hai đứa cứ như sao hôm và sao mai ấy, đứa này đi thì đứa kia về. Nghe, Zuân cười gượng còn Đơn Đơn buồn ra mặt. Cô nói: Anh Zuân quên con rồi mẹ ạ!
Mẹ Thương hỏi: Các con giận nhau đấy à? Không ạ! Zuân đáp, nhưng khuôn mặt tư lự, sầu não phản bội anh. Lại là tình yêu. Mẹ Thương nhác qua hiểu ngay, bọn trẻ bây giờ tự do và có điều kiện hơn, nhưng nỗi khổ trong tình yêu và sự dằn vặt, vò xé của con tim bao giờ vẫn thế. Có cần mẹ nói chuyện với Đơn Đơn không con? Chị hỏi Zuân. Cảm ơn mẹ - Zuân từ chối sự giúp đỡ của mẹ - Chúng con lớn rồi, có gì chúng con sẽ tự giải quyết. Anh không muốn phiền. Mẹ còn bao nhiêu là việc, nỗi lo toan cho sự tồn vong của cái trại này đã đủ mệt, để mẹ nghĩ ngợi thêm chuyện của mình với Đơn Đơn làm gì. Nhưng mỗi lúc thấy lòng cô đơn trống trải, anh lại về với mẹ, với chị Doan, với trại nấm Linh Chi.
Giờ đây lứa trẻ cùng sống với anh một thời chỉ còn lại chị Doan và Bình, Sơn nghoẹo, Nam đao, Hà gấm, Ngọ ngọng và Thắng độc nhãn. Một vài người đã xin được việc làm hoặc trở về gia đình. Nhưng trại Linh Chi chưa bao giờ thiếu, những đứa trẻ này đi, những đứa khác tới, như cái phễu đón hết lứa này lại tới lứa khác, tàn dư của chiến tranh tựa mạch nước ngầm chứa độc tố, ngấm sâu, lan rộng, như vết dầu loang, dai dẳng tàn phá cơ thể những sinh linh bé bỏng. Nhưng dẫu sao, được sống cùng với những đứa trẻ có chung số phận lòng Zuân nhẹ hẳn. Ở đấy có những kỷ niệm không bao giờ quên, anh thấy lại hình ảnh bé Đơn Đơn ngày nào nhõng nhẽo trên lưng, lấy tay xoa xoa nơi bờ vai cụt có bàn tay tý xíu nhú lên như bông hoa của anh mà cù rồi cười nắc nẻ.. Thế mà giờ đây, anh cảm thấy bị tổn thương, vết thương không rỉ máu nhưng đắng xót tận lòng.
- Hay mẹ gọi nó về đây cho hai đứa nói chuyện? - Mẹ Thương gặng. Đừng làm thế mẹ! Zuân nói - Thứ bẩy, chủ nhật Đơn Đơn phải biểu diễn, hát ca trù cần tập trung, để cô ấy phân tâm hát sao nổi. Mà.. Bọn con có chuyện gì đâu mẹ.
Zuân nói vậy nhưng mẹ Thương không an tâm, nội cái trại này đứa nào thế nào sao mẹ không biết, thằng Zuân chúa sống nội tâm, nó là đứa bé có tư chất mã thượng nhưng hay mặc cảm và tự ái. Đơn Đơn tính tình tốt nhưng vô tư, thiếu tế nhị, từ bé được cả nhà chiều, nhất là từ khi phát hiện ra nó có giọng hát hay. Con bé đến lạ, cứ truyền hình hát bài nào y như là nó thuộc. Con bé thích nhất chương trình các nghệ nhân hát ca trù. Nó nói: Con thích hát ca trù vì khi hát được ngồi không phải đứng. Lý do nó đưa ra làm mọi người buồn cười nhưng với đứa trẻ có đôi chân teo tóp như nó thì thật có lý.
Nhớ lần câu lạc bộ Hàn Giang Ca Quán đến thăm trại, một vị khách lặng lẽ chăm chú nghe Đơn Đơn hát. Khi nó hát xong ông không vỗ tay mà kéo mẹ Thương ra hỏi: Con bé còn bố mẹ không chị? Dạ - Thương trả lời - Cháu bị bỏ rơi từ bé. Chúng tôi muốn bảo trợ riêng cho cháu đi học một khóa hát ca trù, chị thấy thế nào? Thấy thế nào nữa, với những đứa trẻ tật nguyền, tìm được công việc cho chúng là điều đáng mừng, nhưng chị vẫn nói: Nhưng ông để tôi hỏi ý kiến của cháu đã! Đơn Đơn biết gì đâu, được hát là vui rồi. Nhưng tôi nói trước - Người đàn ông giao hẹn - Nếu chị đồng ý phải làm giấy tờ đàng hoàng, sau khi học xong coi như cháu Đơn Đơn là thành viên của câu lạc bộ Hàn Giang Ca Quán. Chị đồng ý, vậy là hợp đồng được ký kết. Hơn nữa, câu lạc bộ Hàn Giang Ca Quán còn bỏ tiền mua cho Đơn Đơn một chiếc xe ba bánh gắn máy chuyên dùng cho thương binh để tiện việc đi lại.
Thoạt đầu Thương còn băn khoăn, sau vài lần tìm hiểu, thấy những thành viên trong câu lạc bộ Hàn Giang Ca Quán đều là những người đứng đắn, yêu nghệ thuật, say mê ca trù nên chị đồng ý. Riêng Zuân mừng ra mặt, sáu tháng Đơn Đơn lên Hà Nội học là món quà vô giá. Đối với anh, được ở bên cạnh người mình yêu là vui rồi.
Những tưởng hai đứa gần gũi sẽ tạo điều kiện động viên nhau trong học tập. Ai dè, có những điều không ngờ tới. Là mẹ, nhìn dáng điệu con lay lắt, tâm hồn bất định Thương không chịu được. Mình lại phải ra tay thôi. Nghĩ vậy, Thương định bụng lựa lúc nào tìm hiểu xem sao.
- Mẹ ơi, mẹ thương con và em Đơn Đơn thì đừng làm gì mẹ nhé. Chúng con đủ khả năng để quyết định được tương lai của mình rồi! Zuân thủ thỉ. Cha bố nó, cứ y như là đi guốc vào bụng mình, vừa nghĩ ra nó đã đoán được. Thương nói: Thôi thì việc yêu đương giữa con và nó mẹ mặc, nhưng chuyện sống thế nào cho người đời không chê cười là của mẹ.
- Nhưng mẹ không nhớ Đơn Đơn đã là người của Hàn Giang Ca Quán rồi ư? Zuân nói. Con nói với mẹ như vậy là có ý gì? Mẹ Thương nhìn Zuân. Thế nó làm việc ở đấy thì hết tình nghĩa mẹ con à? Này, mẹ nói cho các con biết nhé! Đứa nào đi đâu, làm gì thì vẫn là con của mẹ nhé! Trong hợp đồng ký với câu lạc bộ mẹ có những điều khoản nắm đằng chuôi nhé! Cần thì mẹ xóa hợp đồng, trả hết tiền, lôi con Đơn Đơn về, cho nó phụ trách tổ thành phẩm nhé! Chẳng qua mẹ thấy nó có năng khiếu mẹ chiều chứ không thì còn lâu nhé! Được rồi, để mai mẹ lên nói chuyện với ông chủ nhiệm câu lạc bộ, bồi hoàn tiền, cắt hợp đồng lôi nó về cho con.
Những tiếng "nhé" liên hồi kỳ trận tuôn ra ấy là lúc Zuân biết mẹ Thương sôi máu rồi. Kiểu này phải nhờ đến chị Doan thôi. Nếu để cho Đơn Đơn không được hát nữa thì Đơn Đơn khổ tâm lắm. Tuy hờn ghen, nhưng chưa bao giờ Zuân có ý nghĩ muốn Đơn Đơn rời nghiệp hát. Trong tình yêu anh sợ mất Đơn Đơn nhưng trong cuộc đời anh không làm điều ích kỷ.
Đêm hôm ấy, đợi mẹ ngủ say, Zuân lén sang giường chị Doan, rúc vào chăn, hỏi: Chiều chị đi đâu mà lâu thế? Doan kéo gối ra cho em: Chị lên sân bay Nội Bài giao nấm Linh Chi cho khách mang vào Sài Gòn, thế ở nhà có chuyện gì hả em? Zuân tóm tắt xong, dặn: Ở nhà có mỗi chị nói là mẹ nghe, chị lựa làm sao để mẹ đừng bắt Đơn Đơn bỏ hát. Doan nhỏm dậy: Cậu buồn cười thật, thế nhỡ cứ để nó ở đấy nó yêu người khác thì cậu tính sao? Zuân lật người nằm úp sấp chống tay lên cằm: Em chưa biết, nhưng dẫu thế nào chị cũng phải ngăn mẹ lại hộ em. Chị biết đấy, hồi còn bé có lúc Đơn Đơn quên cả ăn để hát, bây giờ mà bắt thôi chắc cô ấy buồn lắm! Doan nhìn em ngạc nhiên, cái thằng đến lạ, sợ mất người yêu nhưng lại sợ người yêu không được hát, thế có khỉn không cơ chứ! Đúng là đồ điên!
Cả hai chị em nằm im. Đã lâu Zuân mới lại nằm với chị, tiếng cánh quạt cắt gió rì rì, mùi hương lá sả từ tóc Doan thoảng nhẹ, gió biển thổi đập vào cánh phên đầu hồi như gõ nhịp. Có tiếng đứa nào ngủ mơ vọng từ gian ngoài vào. Giá cứ còn thơ bé thì vui biết chừng nào, chẳng cần nghĩ ngợi gì nhiều. Sáng dậy tập thể dục, đánh răng rửa mặt xong, sau đó ăn sáng rồi ai vào việc nấy. Mẹ Thương vào văn phòng hí hoáy sổ sách, bác Thùy chỉ huy các chị cân đóng sản phẩm; chị Doan thắp hương cho bố Lai xong ra bể vò quần áo, giặt giũ, chuẩn bị cơm trưa; mấy anh lớn kiểm tra buồng giống, tưới nấm, những đứa nhỏ hơn ra vườn nhổ cỏ trồng rau, theo sự chỉ uy của người đàn ông rào lại hàng rào.. Zuân và Thắng độc nhãn sắp xếp lại tư trang, giũ giường chiếu, quét nhà. Đơn Đơn không phải làm, nhưng nó không chịu ngồi yên một chỗ. Zuân lấy ghế bắt ngồi, nó không chịu, phụng phịu: Em hơn anh, có đủ tay, mặc kệ em, bây giờ anh hộ em, thế nay mai lớn anh đi lấy vợ em nhờ ai? Zuân củng yêu vào trán em: Anh ứ thèm lấy vợ, anh chỉ ở với Đơn Đơn thôi! Thật nhé? Đơn Đơn ngước mắt nhìn Zuân. Zuân chìa hai ngón tay ra dấu: Thật, anh thề! Mắt Đơn Đơn sáng rực, lấp lánh như sao, em cong ngón tay tí xíu ngoắc thề.
Ôi, tuổi thơ thanh bình, tuổi thơ hiền dịu, tuổi thơ thiên thần của những sinh linh bé bỏng. Ta đã từng có ngươi, ngươi là dòng sông mát rượi trong vắt như pha lê, cho tuổi thơ ta ùa vào ngụp lặn, hồn ngươi mơn man lên da thịt, bù đắp cho ta mọi thiếu hụt trên xác thân trụi trần. Thượng đế và Chúa trời quên thì chính ngươi mang cành ô liu và bình nước hồi sinh rưới lên những tâm hồn đơn côi, mang niềm tin nuôi dưỡng cho ta lớn lên cùng khát vọng..
Sao em không gặp Đơn Đơn mà nói thẳng ra? Doan hỏi. Không thấy Zuân trả lời Doan lật người quay lại, quờ tay vuốt má em, bàn tay vô tình chạm quệt vào dòng nước mắt. Zuân khóc thầm. Niềm xót xa tràn dâng. Zuân ơi, em có biết không, lúc chưa có anh Bình, em là người chị yêu từ tấm bé, đã có lúc chị ước ao được lấy em làm chồng. Có những đêm chị mơ em là chàng trai cõng chị dạo chơi trên bãi biển Ninh Thuỷ, tiếng sóng vỗ bờ xa, hàng phi lao rì rào, con tầu trắng chứa đầy ước mơ từ từ cặp bờ đón chúng ta đi. Nơi đó, không có tiếng rên van của những nỗi đau mất mát, không còn những đắng cay, những đôi mắt lộn tròng, những cặp chân xơ xướng, nhũn bại, những thân hình xiêu vẹo, những con mắt vô hồn lạc thần, những tiếng cười vô cảm, hai đứa sẽ bù cho nhau những thiếu hụt, em và chị sẽ không còn những khổ đau, những băn khoăn tiếc nuối..
Bỗng Zuân vùng ngồi dậy, lấy tay lay vai chị: Chị hứa với em sẽ không để chuyện ấy xảy ra chứ? Doan lưỡng lự chưa biết trả lời sao, hai ngón tay Zuân như gọng kìm xiết vào vai Doan: Chị hứa với em đi, dẫu Đơn Đơn không yêu em thì chị vẫn phải bảo mẹ Thương đừng bắt cô ấy bỏ hát ca trù.
Ôi em tôi! Doan kéo đầu Zuân xuống ngực mình ghì riết. Bờ vai Zuân rung từng chập, miệng anh thảng thốt lắp bắp: Chị.. Chị.. Chị nhớ nhé! Chị nhớ lời em dặn chị nhé, đừng để Đơn Đơn không được hát. Những giọt nước mắt từ hai khoé mắt Zuân tuôn tràn trên bờ vai chị. Bất giác Doan nâng mặt Zuân lên hôn tới tấp: Chị hứa mà Zuân ơi, chị hứa mà, đừng khóc nữa, chàng trai của chị.