283 ❤︎ Bài viết: 1434 Tìm chủ đề

Chương 20​


20261030-031009-bb38c52f86.png


20

Chuông kêu reng reng ba lần cái đầu đứa cháu giáo sư mới thò ra. Trong khuông cửa, Bình hiện ra như một kẻ từ trên trời rơi xuống. Khó đoán tuổi, có thể hai mươi mà cũng có thể chưa đến, mặt không biểu hiện trạng thái, mồ hôi nhướm trên thái dương, tóc dài búi tó kiểu thầy đồ, răng khểnh ngà vàng xỉn, kiểu uống nhiều kháng sinh Tetaxlin, quần lửng, áo lót dệt kim ba lỗ mầu đen, cánh tay trần, trên vai xăm hình bát quái. Nếu không được giáo sư giới thiệu trước thì Thương ngỡ ngàng thật, và thể nào cũng nhầm tưởng mình gặp phải pháp sư. Bình pha nước mời Thương, giọng khàn khàn: Cô ngồi uống nước, chờ bác cháu về, cháu xin lỗi đang dở tay một chút. Nói xong nó trèo cầu thang lên sân thượng bỏ mặc Thương ngồi một mình.

Thương ngồi xuống tấm sập gụ kê giữa nhà, trước chiếc tủ chè kiểu cổ. Trên ban thờ đặt bức truyền thần, vẽ một cụ già mặc áo the đầu đội khăn xếp. Chắc đó là bố giáo sư. Phía bên trái là buồng, cửa khép kín, cạnh đó là tấm khung kính lồng ảnh. Hồi trẻ giáo sư quả là người điển trai, thuộc diện trẻ lâu, khổ người cao lớn hợp với lễ phục, nhiều bức ảnh giáo sư chụp ở nước ngoài, có bức chụp đứng cạnh bức tường Béc Lin, bức chụp dưới chân tháp Ép Phen, dưới vòm Nhà thờ Đức Bà Pa Ri, bên bờ sông Đa Nuýp, có vài ba bức chụp chung với bà vợ già, dẫu đó là thời trẻ nhưng hình thái bên ngoài của bà ta không khác lắm với lần Thương gặp cách đây ít năm.

Chờ lâu không thấy Bình xuống, Thương tò mò theo lối cầu thang đi lên sân thượng. Thì ra trên sân thượng nhà giáo sư rất rộng, toàn bộ mặt sân là vườn thực vật. Cột trụ dựng, không tường, mái lợp bằng những tấm ngói nhựa mầu xanh, ở giữa kê bộ bàn ghế xi măng tạo dáng hình gốc cây, vân gỗ, xung quanh la liệt các loài cây được trồng trong chậu.

Thấy động, Bình ngẩng lên nhìn rồi lại tiếp tục công việc, trên tay cầm chiếc bình nhỏ phun nước tưới cho một bụi cà chua leo quả nhỏ sai chi chít. Bỗng Thương chú ý tới những bịch nấm treo trên dây trong túp lều nhỏ phía cuối sân. Bên cạnh những bịch nấm bào ngư tươi mơn mởn xếp lớp trắng ngần, có mấy bịch nấm Linh Chi đã vào thời kỳ thu hoạch, thân trụ, tán xoè hình tai, mặt cánh đang ngả sang mầu vàng, những đường vân xếp vòng dưới ánh nắng ánh lên độ bóng nhẫy. Đúng đây là Nữ Hoàng Linh Chi rồi, một trong sáu loại nấm quý nhất và khó trồng. Nhưng theo sách Thương đã học thì đây đâu phải mùa trồng nấm?

Mùa này cũng trồng được nấm hả cháu? Thương hỏi khi Bình xách bình nước đi tới. Bình nhìn Thương gật đầu: Nấm trái mùa, rỗi việc cháu trồng thử, phát triển chậm và chất lượng không bằng chính vụ, nhưng có thể uống thay trà. Nói rồi Bình chạy ra lều bưng ca nước mời Thương uống: Cô uống thử xem, trà Linh Chi trái vụ đấy. Thương đón cốc nước đưa lên miệng, nước đã nguội, mầu cà phê loãng, vị đắng dịu, mùi thơm không khác gì loại trà Linh Chi giáo sư cho Thương uống ở viện. Thế này có mang vào phòng thí nghiệm mới phát hiện ra được, chứ bình thường phát hiện sao nổi.

Trồng nấm có dễ không hả cháu? Thương hỏi. Dễ ợt! - Cậu bé nói như không, tay nhấc cao cái bình cho nước chảy hết - Cô cũng trồng nấm à? Thương đáp: Ừ, cô cũng được giáo sư dậy, nhưng không hiểu sao trồng mãi mà không được. Cháu có kinh nghiệm gì bảo cô với! Cậu bé đặt chiếc bình xuống lấy tay vuốt tai nấm, mặt ửng hồng, giọng bẽn lẽn: Có nhiều nguyên nhân, nhưng cháu không biết cách nói, chỉ biết trồng thôi, tự nhiên mà cô, nếu cô có thời gian, bao giờ chính vụ đến đây xem cháu trồng là biết ngay.

Đúng rồi, lời Bình như một lời giải, nhưng chợt hình ảnh khuôn mặt khó đăm dăm của bà vợ già giáo sư hiện lên. Thương nói: Cô ở mãi dưới Ninh Hải, xa lắm, không có thời gian mà nhà lại đông các em. Bình hỏi: Cô được mấy em? Thương đáp: Mười ba đứa. Bình tròn xoe mắt: Sao cô đẻ khoẻ thế, thế cô có đăng ký vào kỷ lục ghi nét của thế giới không? Thương phì cười, đang định giải thích thì bỗng có tiếng chuông kêu, Bình đứng dậy: Thôi chết, bác cháu về rồi. Tại hôm nay có cô đến chơi nên bác cháu mới về sớm đấy mà! Nói xong nó chạy vội xuống, cái búi tóc thây nẩy nhảy tâng tâng sau gáy.

- Hai cô cháu làm gì ở trên ấy đấy? Giáo sư hỏi khi Thương xuống nhà. Thương đáp: Trên sân thượng nhà thầy có vườn thực vật đẹp quá! Giáo sư chép miệng: Cái vườn ấy là do thằng Bình làm đấy, có giống gì ở viện tôi mang về hướng dẫn qua cái là nó biết ngay, nhiều lúc lên đấy thư giãn trông hay đáo để, từ hồi có vườn, nhà thừa rau ăn mà toàn là rau sạch.

Ra thế, cái vườn thực vật trên ấy là do cậu bé làm. Trong óc Thương nảy ra một ý, nhưng chị không nói, chị xách bị cua đi xuống bếp. Cậu bé nhìn thấy cua, nói: Cua ở đây hơn trăm nghìn một cân đấy cô ạ. Bác cháu chẳng mấy khi được ăn, có muốn nhưng chẳng ai biết làm. Thương tháo dây buộc: Thế còn bác gái? Bình bĩu môi xì ra một tiếng nhưng không nói gì. Như vậy là cậu bé không ưa bà chủ nhà. Thế hàng ngày Bình đi chợ à? - Thương hỏi. Vâng - Bình đáp - Bác gái cháu đi vắng, ở nhà còn mỗi một mình cháu với bác trai, nhưng trưa nào bác ấy cũng ăn cơm ở Viện.

Như vậy hôm nay có Thương đến nên giáo sư phá lệ. Thương định hỏi thằng Bình về chuyện học hành nhưng lại sợ làm nó ngượng nên nói chệch đi: Bình vào lấy cho cô cái nồi hấp rồi bóc giúp cô mấy củ sả. Thằng Bình bê nồi ra, Thương xếp cua vào, nói: Cua này phải hấp mới ngon. Bình bê nồi đặt lên bếp ga, bảo: Cô cứ để đấy cháu trông, cô lên nhà nói chuyện với bác cháu.

Dọn đồ ăn xong, Bình mời giáo sư và Thương sang phòng ăn. Em ngồi ăn cả thể - Nhìn thấy có hai chiếc bát và hai đôi đũa Thương nói. Bình lẽ phép cảm ơn rồi đi xuống bếp. Thương cầm đũa lên áy náy, lạ thật, cái nhà có vài mống người, cháu lại là ruột thịt mà không cho nó ngồi ăn cùng. Em ăn đi, nó không ngồi ăn chung với ai đâu! - Chừng như hiểu được thắc mắc của Thương, Giáo sư giải thích. Lời giải thích làm Thương càng thắc mắc hơn: Thưa thầy sao lại thế ạ? Giáo sư đáp: Nó theo cái đạo gì đấy nên kiêng đồ mặn, bảo mãi cũng không nghe.

Lạ nhỉ, đạo gì mà lại thế, đúng là thằng bé sống lập dị thật. Thương ngồi bóc cua cho giáo sư mà đầu óc luôn nghĩ tới Bình và khu vườn thực vật. Thương kẹp vỡ một chiếc càng cua đặt vào bát ông: Thưa giáo sư, việc em đề nghị có được không ạ? Giáo sư húp đánh "sụp" một cái rồi trả lời: Giá trại của em là của nhà nước hay hợp tác xã thì dễ. Nhưng cơ sở của em là tư nhân nên cũng có cái khó. Thương lật mai cua: Thưa giáo sư, em có ý này muốn đề nghị. Giáo sư gật đầu: Em cứ nói đi, nếu được tôi sẽ giúp. Thương đặt bẻ chiếc mai cua làm hai: Em muốn giáo sư cho cháu Bình xuống giúp đỡ em một thời gian.

Giáo sư ngừng nhai, chiếc càng cua rời khỏi miệng: Em bảo sao? Thằng Bình biết gì về kỹ thuật nấm mà xuống? Thương đưa cho giáo sư chiếc mai cua vàng ruộm: Thầy cứ cho Bình xuống giúp em, chờ Viện giải quyết thì lâu lắm. Giáo sư đáp: Thằng bé thông minh từ bé, nhưng hồi được mười tuổi thì bị một trận ốm, đúng vào dịp mẹ nó nhận giấy báo tử của chồng, lúc ấy tôi đang ở Cộng hòa dân chủ Đức, ba năm sau về nước thì bệnh của thằng bé đã thành mãn rồi và mẹ nó cũng bỏ đi. Thương hỏi: Bình bị bệnh gì hả thầy? Giáo sư dáp: Sau trận ốm, nó bị mắc chứng thần kinh phân liệt, chỉ nhớ được những gì thích ứng thôi, còn những gì không nạp được thì cái nhớ cái không.

Lại là một bệnh rất lạ. Thương nghĩ rồi hỏi: Thế Bình có biết chữ không hả thầy? Giáo sư đáp: Có chứ, những gì nó học được hồi bé không mất đi tí nào, đọc thông, viết thạo, nhưng cho đi học tiếp thì không nhận thức được, học trước quên sau. Thương hỏi: Nhưng em thấy Bình chăm sóc cây khéo lắm mà, trồng cả được nấm? Giáo sư gật đầu: Thì mỗi lần thấy tôi làm gì là nó sán lại, rồi lẩn mẩn suốt ngày, được cái khéo tay, chịu khó, bảo gì là làm, bắt chước giỏi. Nó sang thạch còn chuẩn hơn một số nhân viên của phòng thí nghiệm.

- Thế thầy đồng ý cho Bình xuống với em chứ ạ? - Thương hỏi. Giáo sư đáp: Cũng được, nhưng để tôi hỏi ý nó đã. Thằng bé trông vậy thôi, nhưng khái tính lắm. Em chỉ cần thầy đồng ý thôi - Thương nói - Còn việc hỏi Bình thầy cứ mặc em. Giáo sư nhướng mắt nhìn Thương: Vậy là em đã làm công tác tư tưởng với nó rồi chứ gì? Thương mở vung xoong cầm con cua nóng hổi lên tách đôi, hơi bốc nghi ngút, thịt cua trắng hồng, gạch vàng rộm theo nước chảy xuống bát: Con này mới là cua thịt, em mời thầy. Giáo sư chìa bát đón: Thế bao giờ em định lên đón nó? Dạ.. - Thương ngập ngừng - Nếu được, xin thầy cho Bình về với em ngay hôm nay. Ngẫm nghĩ một lát, giáo sư nói: Chiều mai nhà tôi về, thôi được, cho nó về ở với em, biết đâu khí hậu miền biển giúp cho đầu óc nó minh mẫn thêm phần nào. Nhưng tôi nói trước, thằng Bình chưa có giấy chứng minh thư nhân dân đâu. Dạ.. - Mừng quá, Thương đáp - Thì trong trại của em có đứa trẻ nào có giấy tờ gì đâu. Nói rồi Thương đứng dậy đi xuống bếp gặp Bình. Nghe Thương nói, nó đáp không suy tính: Cháu ở đâu chả được. Thương không ngờ việc thuyết phục thằng Bình dễ vậy.

Dọn dẹp xong. Bình thu xếp quần áo, nó nhét tất cả vào một chiếc bị cói to. Thương bảo: Để lát nữa qua chợ Đồng Xuân cô mua cho Bình chiếc va li. Bình lắc đầu. Giáo sư chép miệng: Nhà thiếu gì, toàn va li tôi mang từ nuớc ngoài về, nhưng nó không dùng. Thằng này khó bảo lắm, không thích gì ngoài bị cói. Lúc đưa hai cô cháu ra cổng, giáo sư dặn Thương - Tính khí thằng bé lập dị, hơi khác người, nhờ em trông nom nó giúp tôi. Thương vâng, nhưng trong bụng cười thầm, chắc giáo sư Hoàng lo xa, chứ nhìn vào việc làm của Bình, nó còn thông minh hơn những đứa trẻ ở trại nấm Linh Chi của mình nhiều.
 
283 ❤︎ Bài viết: 1434 Tìm chủ đề

Chương 21​


20261030-031049-407ec376d3.png


21

Tạm biệt giáo sư, Thương đưa Bình vào chợ Đồng Xuân. Trong bộ quần áo mầu đen, vai khoác bị, đầu búi tó, trông thằng Bình không khác gì kẻ khất hành, khiến nhiều người tò mò nhìn nó như nhìn thấy người trên trời rơi xuống.

Thương dặn Bình đứng trông hành lý ngoài hiên chợ, chị vào dãy bán quần áo. Đang lúi húi chọn, một ni cô ôm bát tộ đi tới. Người bán hàng thét: Đi chỗ khác mà nam mô. Từ sáng đến giờ còn chưa mở hàng đây. Sư sãi gì suốt ngày quấy! Người ni cô nín lặng nhẫn nhịn chờ. Thương móc túi lấy tờ hai nghìn đồng thả vào bát. Người ni cô cúi lễ, giọng nặng âm điệu miền Trung: Mô phật. Nhà chùa xin cảm ơn thí chủ.

Thương giật thột, tiếng nghe thật quen. Thương ngước nhìn: Khuôn mặt ni cô nghiêng, gầy, bờ mi chớp chớp, đôi mắt lấp lánh những tia sáng cảm ơn rồi lại cụp xuống. Từ trong sâu thẳm, linh cảm Thương thức dậy một ký ức. Thương buông chiếc áo đang cảm trong tay, nắm lấy vai ni cô: Chị Thùy phải không? Ni cô giật mình. Chiếc bát tộ gỗ rơi xuống nền nhà reo một tiếng khô khốc. Đôi mắt ni cô mở bừng, chăm chú nhìn người hỏi. Đúng rồi! Đúng rồi! - Thương như gào lên - Đúng chị là chị Thùy rồi! Chị Thùy ơi, em là Thương đây, chị còn nhớ em không?

Đôi lông mày ni cô nhíu lại, chừng như sắp soạn lại trí nhớ thì Thương đã ôm choàng lấy: Chị Thùy ơi, em đây, Thương, chiến sĩ ở trạm giao liên trong Trường Sơn của chị đây. Chị có nhớ em không? Ni cô nhẹ nhàng gỡ tay Thương, lắc đầu: Mô Phật, tui nỏ quen o Thương nào hết! Mắt Thương trừng trừng, ôm vai ni cô đẩy ra xa như muốn xác định lại rồi ôm đôi vai gầy của ni cô mà lắc: Chị nhìn kỹ lại xem có đúng là em không? Chị có còn nhớ binh trạm l3 không?

Ni cô khẽ lắc đầu: Chắc thí chủ nhầm tui với ai. Thương lắc đầu: Không mà! Có đúng chị là chị Thùy, trạm trưởng trạm giao liên l3 phải không? Ni cô cúi đầu, nói: Trước đây tui đúng là Thùy, nhưng nay tui đã qui y mang tên nhà Phật từ lâu rồi. Câu trả lời của ni cô làm Thương sực tỉnh. Thương reo lên: Đúng rồi! Đúng rồi! Thế mà em quên mất. Tại em, tại em đổi tên. Chị Thùy ơi, em là Hoa quê vùng biển Ninh Hải đây, chị nhớ ra chưa? Cái Hoa, em út của trạm mà chị chuyên tìm bồ kết rừng gội đầu cho khỏi bệnh nấm tóc ấy, chị nhớ không?

Cái tên Hoa dội đến như một niềm thức nhớ, ni cô sững người trân trân nhìn. Đúng! Đúng là Hoa rồi! Không kìm nổi, ni cô giang tay ôm choàng lấy Thương, thảng thốt - Thật là Hoa đây ư.. Thật là Hoa đấy ư? - Ni cô đẩy Thương ra, mắt chớp chớp: Ôi, em tui, vậy là em còn sống. Sao người ta nói với chị, em chết rồi?

Hai người ôm lấy nhau nức nở khóc. Kỷ niệm ùa về ngập tràn trong dòng nước mắt..

Trạm giao liên biên chế một tiểu đội nhưng chỉ có chín người, và hầu như chưa bao giờ họp mặt quân số đầy dủ. Thùy, trạm trưởng quê Hà Tĩnh vào chiến trường đã năm năm. "Cháu chào cô" - hôm đến nhận đơn vị Hoa chào. Chẳng lẽ tao già như rứa? - Thùy trợn mắt nhìn Hoa. Đến lúc tâm sự Hoa mới biết trạm vừa sinh nhật lần thứ hai mươi nhăm cho Thùy xong. "Rồi mi cũng rứa, hồi mới vào tao xinh đẹp kém chi mi, mới năm năm mà đã như rì!". "Em xin lỗi" - Hoa bẽn lẽn. Thùy vỗ vai: "Lỗi lầm chi mô! Có chú bộ đội nhập nhoạng tối gặp tao còn kêu" Con chào mệ "đã mần răng?". Cả hai cười, ánh sáng đèn chao trong hầm trú ẩn hắt lên gương mặt sần sạm sương gió của Thùy trông càng hõm xọm, tóc thưa, cháy rộm, da tái ngắt, những nếp nhăn rúm lại thành tia chéo hình dải quạt, môi thâm xịt, hai hàm răng trắng nhởn hệt như đầu lâu biết nói. Nhìn, Hoa đâm hoảng, nếu mình chóng già như vậy không biết Hải có chê không?

Thùy lần lượt giới thiệu Hoa làm quen với mọi người trong trạm qua những bức ảnh treo trên vách hầm: Ni lão Quỳ trạm phó, biệt hiệu Quỳ hôi. Chui cha! - Thùy bĩu dài môi - Mần răng mồ hôi của o nớ khắm như mùi chuột chù? Mùa ni còn dỡ, mùa nắng Lào nửa ngày nỏ tắm tau đố mi dám đi sau. Nhưng gan cóc tía! Một mình chơi tay bo với năm thằng biệt kích đó nghe! Còn đây - Thùy chỉ lên tấm ảnh cô gái có một khuôn mặt tròn vạnh với nụ cười tươi tắn, khoe hàm răng trắng bóng - Hương choắt, người Quảng Bình, hát nay như Bích Liên ở đài, khi mô gặp bảo o hát "Quảng Bình quê ta ơi" cho mà nghe..

Hoa vừa nghe Thùy nói vừa xem ảnh, khuôn mặt o nào cũng trẻ đẹp, dễ thương. Có ba bức ảnh viền vải đen, đó là những người đã hy sinh. Hằng, Hoa, Hương - Thùy đưa tay lên vuốt từng tấm ảnh giới thiệu - Cả ba o chịu chung một quả bom lúc đang tắm - Giọng Thùy bỗng dưng chùng như đây đàn tuột phím - Cả xương lẫn thịt gom lại chưa nổi một vốc. Mỗi lần đi qua quãng suối ấy đứa nào trong trạm cũng hái hoa ném xuống.. Nghe, Hoa rùng mình, vậy là Hoa kia "đi" Hoa này đến, liệu số phận mình có thế không? Nhưng nếu có chết cũng được, chỉ xin được một lần gặp lại Hải.

- O là út, dán chỗ ni - Thùy cầm tấm ảnh của Hoa ướm lên vách - Nghị quyết của trạm vậy, những người tới sau dán lên đầu.

Trong chiến trường nhiều thứ bị đảo lộn, hèn nào ảnh Thùy dán ở cuối hàng. Hoa nghĩ rồi mở ba lô lấy ra lọ nước hoa vặn nút vẩy lên các tấm ảnh, mùi thơm ngào ngạt tỏa ra. Nước chi mà thơm như hoa nhài vậy o? - Thùy kêu lên. Hoa đáp: Dạ, đây là lọ nước hoa em mua trước hôm vào bộ đội. Chui cha, chi mà sang rứa! Cho tau mần chút - Thùy nói. Nhưng khi cầm Thùy đưa lên mũi rồi trả lại - Thôi, o cất đi để đành khi mô có đồng chí hy sinh rẩy vào thây cho át mùi hôi. Trời ạ. Hoa rùng mình. Tiểu đội trưởng thản nhiên nói cứ y như vào đây để đợi chết.

Trên đường hai người ra suối tắm, Hoa kể động cơ xung phong của mình đi bộ đội cho Thùy nghe. Rứa là mi xin đi chiến trường do động cơ tìm người yêu? Mất lập trường! - Thùy trợn mắt lấy tay củng vào đầu Hoa. Hoa hất mái tóc ngược lên, lấy nơ buộc lại, nói: Em kết hợp cả đôi mà chị. Cả hai phá ra cười, âm thanh dội vào rừng vọng lại trong vắt. Hình như tiếng ầm ì của động cơ máy bay và tiếng bom nổ từ xa không làm cho hai người để ý. Tiếng cười lúc rộ lên lúc rúc rích, thể như hai chị em lâu ngày gặp nhau nay có dịp tỏ bày.

Thùy cởi quần áo giấu vào bụi cây rồi cứ trần truồng thế lội ào xuống. Hoa nhìn trước nhìn sau, cô định cứ để cả quần áo như thế lội xuống suối, Thùy vẫy: Ở đây mần chi có ai mô mà mi ngại, cởi truồng tắm tiên cho sướng! Hoa nghe Thùy, cởi ra rồi thu lu người chạy vội xuống. Trong lòng suối, hai thân hình con gái lùa lã, dòng nước mơn man da thịt. Mi đẹp thật! Thùy kỳ lưng cho Hoa, tấm lưng trắng, mỡ màng như miếng bột lọc, vết tay kỳ tới đâu ngấn đỏ hiện ra như son môi. Nhưng o Hoa ơi, da thịt này nhuộm nắng gió Trường Sơn được mấy hồi! Nghĩ vậy nhưng Thùy không nói ra. Lúc nghe Hoa thổ lộ lý do nhập ngũ Thùy thấy kỳ, ai đời người ta đi chiến trường với mục đích cao cả, đằng ni o nớ mong vào chiến trường để tìm được người yêu. Sự không tưởng, rừng núi Trường Sơn vừa dài vừa rộng biết mô mà lần? Lại còn cái động cơ vừa ngộ vừa thiếu lập trường kia nữa! Nhưng thôi, uốn nắn tư tưởng dần dần vậy. Yếu hơn thiếu! Chiến trường cần, trạm thiếu quân số, kêu rạc mồm mới được một, nay chê liệu bao giờ mới được bổ sung?

- Hải là em rể của tiểu đội mình! - Thùy kết luận, kéo tay Hoa đi lên - Tau sẽ lệnh cho toàn trạm xới tung cả rừng núi Trường Sơn tìm người yêu cho mi! Lúc rảnh mi lấy giấy vẽ hình tả lại dặc điếm của hắn cho tau phát cho mọi người.

Ôi, niềm tin của phụ nữ, kết tủa từ những ước mơ thuần phác, giản dị, kỳ vọng vào những điều tưởng tượng. Mọi điều trên đời đều có thể! Ai nói với Hoa câu ấy nhỉ? Hoa không nhớ, nhưng giờ đây Hoa không đơn độc nữa, đã có các chị trong tiểu đội như những cánh chim bay khắp dãy Trường Sơn tìm anh cho em. Hải ơi, giờ này anh đang ở đâu? Thần giao cách cảm mách bảo anh cũng đang nhớ về em có đúng không anh?

Bất giác Hoa cất tiếng hát: Đời giao liên bước tôi đi dài theo, theo đất nước.. Thùy liếc nhìn Hoa: Ừ, tinh thần cứ vầy là được! Thùy cất giọng hòa âm: "Dẫu gió núi dông rừng, dù đường trơn vực sâu hề chi, đường Trường Sơn từng quen nhịp đi.. Vẫn vui cùng Trường Sơn mấy thương yêu.."
 
283 ❤︎ Bài viết: 1434 Tìm chủ đề

Chương 22​


20261030-031130-e5fff6a35e.png


22

Chị Thùy và Bình theo Thương về trại nấm Linh Chi được ít hôm thì cơn bão số 2 ập tới. Từ phía biển, mây đen vần vũ, bầu trời nạm xám, bịt bùng, từng đợt gió thổi ào ào, xoắn, vít những ngọn cây trong vườn cong vút như cần câu, tiếng gió rít, gào, rú, ném vào không gian, đập vào tường nhà khiến những tấm phên cửa phành phạch. Gió mỗi lúc mạnh dần, cùng với những đụn mây cuồn cuộn bao phủ nền trời là những cơn gió thốc tháo kèm theo những cú giật như muốn vặn đổ dãy nhà trong trại.

Người đàn ông làm thuê cho trại bắc thang trèo lên nóc nhà, ông cởi trần trùng trục, gió táp hất tung chiếc mũ tai bèo, phồng như chiếc dù nhỏ. Bình ở dưới, làm theo lệnh chỉ huy của người đàn ông, kéo sợi dây cuốn vào cọc tre đóng xung quanh nhà. Mái tóc búi tó tuột, xõa bay theo gió, trông nó như đạo sỹ trong phim chưởng dài tập. Khẩn trương lên! - Tiếng người đàn ông liệng trong gió - Sắp có mưa rồi đấy. Bình néo dây - móc xà beng, vặn. Cẩn thận, "già néo đứt dây"! - Người đàn ông gào lên. Thằng Bình dừng lại, vỗ vỗ vào sợi dây căng căng như dây đàn. Lác đác có những hạt mưa. Người đàn ông kéo chiếc mũ lên đầu buộc dây lại rồi chuyền theo nóc nhà, vẫy tay ra hiệu cho Bình đi về cuối dãy. Bình xách xà beng đi theo hướng ông chỉ.

Trong gian trại chính bọn trẻ túm tụm quanh cô giáo Thằng Zuân thon lỏn ngồi trong chiếc xe đẩy của Đơn Đơn, còn Đơn Đơn được cô giáo bế trên tay, ủ trong tấm chăn chiên, con bé hãi, nép cái đầu nhỏ xíu vào ngực cô, mắt nhắm tịt. Bọn nhỉnh hơn sợ không kém gì. Hà gấm, con bé có bộ mặt loang lổ như báo gấm ngồi thụp xuống chân tường, đôi mắt xanh biếc như mắt mèo hoang lúc lúc ngó qua khe cửa, mỗi khi có cơn gió đập vào phên liếp lại thụt đầu né tránh. Thắng độc nhãn giương con mắt độc nhất nhìn qua lỗ thủng trên bờ tường chăm chú theo dõi cơn bão. Cạnh đấy, bọn Nam dao, Sơn ngoẹo, Ngọ lắp, Hồng vẩy, Hải bạch tạng, Kiên lác ra vẻ ta đây cười đùa ầm ĩ.

Doan từ trong gian thờ bố Lai lết ra, quát: Tất cả trật tự để mẹ và bác Thùy làm việc. Bọn trẻ nhìn nhau thè lưỡi. Thương quay lại, hỏi: Minh Loan và Thúy Quỳnh thế nào con? Doan đáp: Mẹ yên tâm, bọn chập cheng, bão thế, chứ trời có sập xuống, đất có nứt ra chúng nó vẫn ngủ được. Thùy hỏi: Mần chi o nhận cả những đứa trẻ bị liệt thần kinh? Răng mà nuôi bọn nó cả đời được? Thương đáp: Có điên mà em nhận. Nửa đêm nửa hôm họ mang đến vứt ở cửa, chẳng lẽ mình mang đi nơi khác bỏ, nhỡ chúng chết thì sao?

Thùy nín lặng. Quả thực khi tận mắt chứng kiến thực trạng ở trại nấm Linh Chi, Thùy mới thấy được những khó khăn, thiếu thốn của Thương. Thùy không lý giải nổi tại sao Thương tự tìm lấy vất vả cho mình? Cái ách của chiến tranh để lại, lẽ ra phải quàng lên vai kẻ khác, thì o giao liên Hoa ngày xưa, nay là o Thương lại dang tay đón nhận. Khổ vậy, nhưng Thùy chưa nghe Thương phàn nàn một câu. Hay là tại kiếp trước nhỉ? Thùy chợt nhớ hồi lên núi Hồng xuống tóc xuất gia. Thầy chùa bảo: Số con căn bối lắm. Tiền duyên kiếp trước mang nặng trên vai, cơ chừng phải gắng tu nhân tích đức kiếp này, sang kiếp khác may mới nhận được lộc đời..

Lộc đời là sao không rõ. Nhưng ngẫm ra, quả thật số phận Thùy éo le muôn nỗi, thiếu thiệt nhiều thứ. Không gia đình, không chồng con, ngót nghét năm mươi tuổi vẫn là gái trinh nguyên, chưa một nụ hôn, không một lời âu yếm. Những tưởng đời mình đã khổ, nhưng nay so với Hoa, chị mới thấy đoạn trường đã trải của mình vẫn còn may mắn hơn. Tháng ngày rong ruổi, tay bưng bát tộ, vai khoác túi nâu sồng, cả thể xác lẫn linh hồn núp bóng Phật, cầu mong người đời rủ lòng thương, vừa làm điều thiện vừa lấy thứ nuôi mình. Dẫu cực nhưng còn có cớ để mà tồn tại. Nhưng ở đây, trong khu trại đơn độc giữa cánh đồng mênh mông nửa chua nửa mặn này, mười ba đứa trẻ, mười ba linh hồn, đứa nào cũng mang trên mình di chứng, không què thì cụt, không mù thì lòa, nhỏ nhoi, ấu trĩ; hết thảy nương tựa vào một con người cũng mang trên mình thương tật với một tâm hồn cô đơn, loi lẻ..

Cô giáo bế Đơn Đơn đi tới chỗ hai người, nói: Theo đài báo, cơn bão này có thể kéo dài đến năm ngày, vậy là cuộc họp báo phải hoãn lại chị ạ. Thương đáp: Tại ông giời chứ tại gì tôi. Miệng nói vậy nhưng ý nghĩ của Thương lại nhớ đến món tiền đã nhận - Tan bão thì họp cũng được chứ sao? - Thương nói thêm. Cô giáo lắc đầu: Chắc gì đã họp được hả chị. Chuẩn bị một cuộc họp báo đâu dễ. Hôm qua em nghe ông chánh văn phòng ủy ban nói giấy mời đã gửi trước một tuần rồi, mưa bão thế này không biết ủy ban thành phố tính sao? Mô phật - Chị Thùy nói - Người tính nỏ bằng trời tính. Cô giáo chép miệng: Chỉ khổ Chủ tịch Hải thôi, bao nhiêu công sức chuẩn bị - Cô giáo đưa Đơn Đơn cho Thương - Tình hình này em có ở đây cũng không làm gì được. Bây giờ em về qua ủy ban báo cáo xem ý kiến của các anh ấy thế nào. Thùy giúp cô giáo cài cúc áo mưa: Nhờ cô giáo nói lại với lãnh đạo để các anh ấy nắm rõ tình hình thực tế của trại. Được, hai chị cứ yên tâm. - Cô giáo nói rồi dắt xe ra, mấy lần nhẩy lên nhưng gió tạt mạnh, chiếc áo mưa kêu phần phật, chiếc xe loạng choạng chực ngã nên cô đành phải dắt.

Cô giáo đi rồi nhưng nỗi băn khoăn của cô giáo làm cho Thương áy náy. Tiền nhận rồi, được việc mình nhưng lại nhỡ việc Hải. Trong sâu thẳm thâm tâm, le lói một chút xót cảm. Qua những lần gặp gỡ, Thương biết tình cảm của Hải vẫn dành cho mình thật nhiều. Ngoài sự nuối hận còn níu lại nỗi niềm của một tình cũ chưa bao giờ tắt. Cứ nhìn vào mắt và cái cảnh Hải lúng ta lúng túng khi gặp là biết. Có phải mình cố chấp và tàn nhẫn quá không? Đôi lúc Thương nghĩ. Nhưng mỗi lúc lùa tay vào bụng, bắt gặp những vết sẹo sần sùi sạn nháp, dĩ vãng hiện về, tâm hồn Thương lại tràn ngập nỗi uất ức. Tha thứ thế nào được. Nếu cuộc họp báo không thành, Hải chỉ mất một lần cơ hội trên con đường thăng tiến. Nhưng phía trước Hải còn biết bao cơ hội khác. Còn Thương, đã từng mất đi tất cả. Nếu tha thứ cho Hải, thì ai trả lại cho Thương một thời tuổi trẻ? Ai bù lại cho Thương niềm tin yêu đã mất? Ai gắn kín được vết thương trên da thịt? Ai xóa sạch được những vết sẹo sần sụi, nhớp nhúa kia.. Ai gột rửa cho Thương vết thương lòng của một tình yêu thuần khiết? Không! Không! Một ngàn lần không thể..

Bình từ ngoài chạy vào: Cô Thương ơi, còn dây buộc không? Thương bừng tỉnh: Trong kho còn một cuộn, để cô lấy cho. Thương trao bé Đơn Đơn cho Thùy, trùm ni lông lên người, dặn: Mưa gió thế này chắc không nấu cơm được, chị bảo con Doan cho cả nhà ăn mì tôm vậy. Thùy chưa kịp đáp, Thương đã lao vút ra ngoài. Bình chạy theo sau, gió mạnh khiến hai cô cháu phải nghiêng người tránh gió. Thương móc chìa khóa mở cửa, nước từ trong kho chảy tràn ra. Thằng Bình vần cuộn dây ra ngoài. Thương hỏi: Liệu có giữ được không Bình? Bình lắc đầu: Cháu sợ mưa mãi, nước ngập, đất ruỗng, không bị gió nhà vẫn sập. Cô xem tìm cách nào chuyển các em đi, tan bão lại về. Nói xong Bình vác cuộn dây lên vai chạy vội.

Thương nhìn quanh, nước từ trên đường ngấm qua vách ngập ống chân, chợt nhớ tới túi nấm giống, Thương chạy sang phòng thí nghiệm. May, túi giống treo trên tường không bị sao. Hỏng gì còn được chứ không thể để giống hỏng được. Tất cả vốn liếng cho vụ tới trông cả vào đây. Thương kiểm tra những ống nghiệm đựng bào tử nấm, cuộn lại cho vào trong bụng, kéo áo mưa che khum người chạy lên nhà.

Thùy hỏi: Tình hình thế nào em? Thương đáp: Phải tính xem thế nào chị ạ. Theo dân ở đây nói, năm mươi năm nay mới lại có cơn bão to thế này. Cứ đà này em sợ không ổn. Thùy hỏi: Quan hệ giữa trại và Chính quyền địa phương thế nào? Thương lắc đầu: Chính quyền ở đây nói làm gì hả chị. Bao nhiêu lầm nhăm nhe cướp đất của em rồi, không có mấy đứa đui, què, mẻ, sứt này che chắn thì em mất từ lâu rồi. Thùy ngạc nhiên: Răng rứa? Thùy chui xuống hầm xách chiếc cặp ba dây lên, mở ra lấy mấy tờ thông báo đưa cho Thùy: Chị xem công văn của họ sẽ rõ.

Thùy chăm chú đọc. Cứ như những điều viết trong thông báo, thì mảnh đất này không có chủ. Hèn nào, từ lúc cơn bão đổ về nỏ thấy một cán bộ nào ở xã đến hỏi thăm. Thùy gấp mấy tờ giấy đưa trả cho Thương: Vậy mần răng em có mảnh đất này? Thương buộc lại dây cặp: Chuyện dài lắm chị ơi..
 
283 ❤︎ Bài viết: 1434 Tìm chủ đề

Chương 23​


20261031-091355-3e9b859833.png


23

Từ trại an dưỡng về quê, nửa đêm Hoa mới đến nhà. Cô muốn dành cho mẹ điều bất ngờ. Nhưng khi cửa mở, Hoa không kìm lòng được nữa. Dưới ánh sáng le lói của điện đường hắt vào, mẹ hiện ra với đôi mắt lòa và cây gậy trong tay, tấm lưng còng gù gập. Hoa khuỵu xuống ôm mẹ ghì riết: Mẹ ơi, con đây. Người mẹ như chưa tin, đưa tay sờ soạng. Không nén nổi, Hoa òa khóc nức nở. Mẹ gục đầu vào vai con lòng tê dại. Hoa cảm thấy vai áo mình đẫm ướt và nóng hổi. Bàn tay mẹ níu giữ, cơ chừng sợ mình đang nằm mơ: Thật là Hoa đây ư con? - Mẹ thảng thốt. Đó là tiếng nói đầu tiên của mẹ sau bao năm trời xa cách. Hoa của mẹ đây, mẹ ơi - Hoa đáp, người lả vào mẹ, cảm giác toàn thân như không còn sức sống. Thật là con đấy ư? Mẹ buông gậy ôm tấm thân bé bỏng, lùa tay ve vuốt.. Bất chợt gào lên: Trời ơi, con tôi! Mảng sẹo chằng chịt, sần sụi trên làn da bụng của Hoa khiến mẹ rùng mình. Trong khối óc già nua của mẹ chợt hiện về thân hình thiếu nữ, tròn trịa, mơn mởn. Mỗi khi gội đầu, kỳ cọ cho Hoa, mẹ tấm tắc: Lưng, bụng của con thế này nay mai lấy chồng mắn đẻ lắm. Vậy mà giờ đây, người nó đét, khô như con mắm, dẻ sườn xếp lớp, xương quai xanh gồ lên để lại bờ vai mỏng dẹt, da bụng lồi lõm, những vết sần sạn nháp nhúc như da cóc. Mẹ rờ mặt Hoa, nước mắt đầm đìa. Trời ơi - Hoa thốt không lên thành tiếp - Mẹ lòa từ bao giờ thế này? Mẹ không đáp mà hỏi - Đi ngần ấy năm trời mà chẳng thư từ gì về cho mẹ. Sao con gan thế? Ơ.. - Hoa định thanh minh nhưng rồi cô dịu dàng nói - Thì bây giờ con về đấy thôi.

Hai mẹ con dìu nhau vào nhà. Hoa nằm bên mẹ ngước nhìn lên trần, tờ giấy bố dán trên nóc còn nguyên, nhưng mái nhà nát quá. Cô định bụng làm thủ tục ra quân xong sẽ về sửa lại. Nhưng cuộc đời không cho Hoa tính trước điều gì. Nếu gọi là định mệnh thì chính đó là định mệnh. Hoa ở nhà với mẹ được ba tháng thì mẹ chết. Mẹ ra đi lặng lẽ, không một lời trăng trối. Ngoài ngôi nhà ba gian ọp ẹp, vật kỷ niệm duy nhất mẹ để lại là chiếc khăn bịt mặt ngày xưa lần đầu tiên bố mở. Mẹ chết, người yêu phụ tình. Trong lúc cùng cực, chợt Hoa nhớ đến Lai, sau tuần tứ cửu mẹ Hoa tìm về quê anh. Cô hy vọng anh còn sống. Và Lai còn sống thật, nếu sự tồn tại ấy còn có thể gọi là cuộc sống..

Lai đón Hoa trên giường bệnh. Những vết thương mặc dù đã liền sẹo nhưng ẩn náu bên trong là những cơn đau luôn rình rập hành hạ, dày vò. Mỗi lần lên cơn, toàn thân Lai căng cứng, từng khớp xương như có hàng trăm ngàn con giòi bọ đục khoét, đầu anh như bị một bàn tay vô hình nào đó xoắn, vặn, cào cấu, vò xé.. Những tiếng u.. U.. U.. Kéo dài, lay lắt, chì chiết, lẫn trong cơn đau cào xé, tiếng đạn bom dội tùng đợt. Trước mỗi cơn đau, anh tự khóa hai tay, hai chân vào xiềng, cái xiềng tự tạo bằng những đoạn xích xe máy bỏ đi. Hết cơn đau, Lai lại lao vào công việc khai phá vùng đất nửa chua nửa mặn.

Hoa không ngờ gặp lại Lai trong tình cảnh vậy. Mẹ anh chết vì bệnh, hai đứa em gái lấy chồng xa. Ngôi nhà không đầy hai mươi mét vuông bị gán nợ. Bơ vơ, côi cút, từ trại thương binh về, anh không về Quảng Ninh, mà về quê mẹ ở thành phố Ninh Hải, tìm khu bãi hoang gần biển vỡ đất dựng lều ở. Với Lai, thế là hết. Anh sống bất cần, cơm niêu, nước lọ, lấy rượu cho khuây khỏa, lấy công việc cho đoạn ngày đoạn tháng, âm thầm gắng chịu và thầm mong cho cuộc đời mau trôi qua.

Có những đêm, giữa cơn đau xé xác, Lai định kết liễu đời mình, nhưng có gì mách bảo: Không nên chết một cách hèn kém vậy, cứ để xem nỗi khổ hạnh của cuộc đời này còn tàn tệ đến bao nhiêu?

Với Lai, Hoa đến là điều anh bất ngờ nhất. Từ hồi gặp trong chiến trường, Lai hiểu tính khí người con gái này, bất chấp hiểm nguy, đi và sống bằng hy vọng và đặt hết niềm tin với người mình yêu. Những người con gái trung trinh như thế, hẳn sẽ được đón nhận những niềm vui, hạnh phúc của cuộc đời. Nhưng ngược với điều anh nghĩ, Hoa cũng khổ không kém gì anh.

Đau đời, đau tình, đau nghèo, đau bệnh.. Là những thứ đau đeo đẳng hàng ngày đè lên vai hai người cùng chung số phận. Và, cũng từ ngày có Hoa đến, anh như người được hồi sinh, được nhìn thấy ánh dương quang bừng lên từ đêm tối mịt mờ. Với anh, Hoa không chỉ là người đồng chí, đồng đội, hơn hẳn đó là người anh thầm tín phục, thầm mơ và yêu tới cháy lòng. Bàn tay Hoa như có phép mầu, làm dịu bớt những nỗi đau, cho anh thêm nghị lực, cho anh chỗ dựa để vượt qua tất cả..

- Vậy trước khi mất, mần răng eng Lai nỏ để lại giấy tờ gì? - Thùy hỏi. Hoa lắc đầu: Có mỗi tờ giấy viết tay của ông chủ nhiệm hợp tác xã đồng ý cho anh Lai ra đây phá hoang thôi mà chị. Em mang ra trình ủy ban xã, họ nói giấy tờ chẳng có dấu má gì nên không có giá trị. Vậy mần răng o nỏ nhờ ông chủ nhiệm nói giúp? - Chị Thùy hỏi. Chị ơi - Hoa nói - Ông ấy chết từ đời tám hoánh rồi. Mà trước đây nơi này là khu đất hoang làm gì có giá. Nay thành phố quy hoạch lại, con đường trước cửa nhà mình sẽ được nâng cấp, đất đai bây giờ lên giá vùn vụt nên họ tiếc. Của họ đâu mà họ tiếc? - Thùy buột miệng. Hoa nhìn chị, cười: Cứ như em với chị thì mần răng có chiến tranh! Nghe Hoa nhại tiếng quê mình, Thùy cười lấy tay cốc nhẹ vào trán Hoa: O này.. O này. Hoa chợt nhận ra, từ hôm gặp lại, đây là nụ cười đầu tiên của chị Thùy. Thùy hỏi: Thế còn mần răng mà em mang tên Thương? Hoa đáp: Đấy lại là chuyện khác..

Vừa lúc ấy, Doan lết từ dưới bếp lên, gọi: Con mời bác và mẹ vào ăn mì. Hoa nói: Thôi, chuyện đổi tên để lúc nào rồi em kể, bây giờ ăn xong còn tính chuyện đối phó với mưa bão đã. Lúc này người đàn ông và thằng Bình đã làm xong, cả hai đi lên nhà. Người đàn ông vuốt nước mưa trên mặt, nói: Tạm ổn rồi, bây giờ tôi về qua nhà xem tình hình thế nào. Mưa gió thế này mụ vợ tôi thể nào chả cuống tĩ lên. Chị Thùy đưa cho ông cái áo, nói: Cháu Doan nấu mì rồi, bác ăn tạm một đọi rồi về. Thôi! - Người đàn ông đáp giật cục, nhưng rồi ông gật đầu - Có rồi thì cho tôi một bát. Thùy gọi với vào trong: Doan ơi, mang mì lên đây. Con Doan đang múc mì chia cho bọn trẻ, nghe thấy vậy nói to: Có ngay, có ngay! - Doan ra lệnh - Sơn ngoẹo, bê lên, nhớ hai bát mì chay này là của bác Thùy và anh Bình! Sơn ngoẹo tay bê mâm, mồm rao rẻo như kẹo kéo: Mì Mi li két chính hiệu, vừa dẻo vừa thơm, vừa bùi vừa ngậy, có ngay, có ngay..

Người đàn ông và vội và vàng, loáng cái hết bát, ông nghiêng đôi đũa lau miệng: Tạm ổn rồi, tôi về hai cô nhé! Nói xong người đàn ông nhấc xe đạp ra, sợi xích tuột, bàn đạp quay tự do một vòng, ông cúi xuống lầm bầm - Lại sắp đòi tiền đây. Lắp xích xong, người đàn ông gác chân qua khung xe định đạp đi, chợt nghĩ điều gì đó, nói: Cứ tình hình này, không chừng nửa đêm bão sẽ càng to, mưa nhiều, trại mình ở chỗ trũng, để các cháu ở đây không ổn, bác và cô Thương liệu mà tính. Thu xếp xong công việc ở nhà tôi sẽ ra. Vâng - Thương nói - Trăm sự nhờ bác. Lúc này thiếu bác là gay. Người đàn ông không đáp, xiết lại dây mũ, nhẩy lên xe, đạp dấn, chiếc xe lạng đi lạng lại đôi lần rồi bon đi.

Nhưng chỉ khoảng mươi phút ông ta quay lại. Thương hỏi: Bác quên gì hả? Không! - Người đàn ông đáp - Ngoài kia nước ngập rồi. Tôi tính thế này, bây giờ cô cho các cháu sơ tán tạm về nhà tôi, kẻo đêm đến nước lên to thì làm thế nào? Người lớn thống nhất vậy, nhưng bọn trẻ nhất quyết không đi. Mặc Thương và Doan quát tháo, hạ lệnh, bọn chúng vẫn ỳ ra, đứa nọ túm đứa kia thành một khối. Thắng độc nhãn kiên quyết: Mẹ Thương không đi chúng con cũng không đi! Sơn ngoẹo khăng khăng: Con không rời trại! Tất cả bọn đồng thanh hô: Không rời trại! Thấy vậy, chị Thùy bàn: Em và bác cho Đơn Đơn và hai bé Minh Loan, Thuý Quỳnh đi trước, còn tất cả liệu sau. Nhưng Đơn Đơn đòi cả Zuân cùng đi, nó dẩu mỏ mè nheo: Anh Zuân không đi, em ứ đi. Zuân dỗ: Em đi với mẹ, tan bão anh sẽ đón em. Đơn Đơn giãy nảy, lăn ra đất bu lu bù loa, túm diệt lấy Zuân không chịu rời. Thấy vậy Thương và bác Thùy phải nói mãi Zuân mới đồng ý.

Người đàn ông dắt xe đạp của Thương ra kẹp cáng dọc vào hai chiếc xe đạp, buộc võng, cho Minh Loan và Thuý Quỳnh vào rồi che tấm ni lông lên che. Hai đứa bé nằm thườn thượt trong võng, khuôn mặt thuồn thuỗn, ngô nghê, nghe gió bão réo ù ù, toét miệng cười khanh khách. Thương nhấc Đơn Đơn đặt vào võng, con bé nhất định không chịu, bám chặt lấy Zuân, lý sự: Con vào võng nhỡ anh Zuân trốn ở lại thì sao? Vừa bực vừa buồn cười Thương dỗ: Con cứ vào võng đi, anh Zuân sẽ đi cùng con. Đơn Đơn nguẩy người vòi vĩnh: Con ứ! Con muốn anh Zuân cõng con cơ. Zuân bảo mẹ: Thôi, để con cõng em. Đơn Đơn khoái chí, bám vai Zuân đu lên. Zuân nói: Đi thôi mẹ. Thương cầm ghi đông chuẩn bị đi, Doan hớt hải từ trong nhà lao ra, hét: Khoan, mẹ ơi. Thương dừng lại: Còn gì nữa đây? Doan bảo Bình: Anh Bình vào nhà lấy tấm ảnh bố Lai cho mẹ mang đi. Em để cả bát hương ở trong túi đấy. Cẩn thận làm vỡ kính thì đừng có trách em.

Bình lụi cụi xách túi ra đưa cho Thương: Cô kiểm tra đi, tất cả còn nguyên lành, kẻo nay mai vỡ Doan lại đổ cho cháu. Ai đổ cho anh? - Doan nguýt Bình - Anh chỉ giỏi bịa. Chị Thương đặt chiếc túi xuống cạnh hai đứa bé nằm trong võng, cười: Đừng cãi nhau nữa, mẹ bảo đảm "giữ" bố Lai của các con nguyên vẹn. Bọn trẻ cười vang, người coi cá cầm ghi đông xe ngúc ngắc, giục: Thôi đi đi, mưa gió rần rần thế này còn đùa được.

Thương và mọi người đi rồi, Thùy hỏi Doan: Gần đây có doanh trại bộ đội nào không? Doan đáp: Có đơn vị bảo vệ bờ biển nhưng ở mãi cuối huyện cơ. Thùy hỏi địa chỉ rồi nói: Cháu ở nhà trông các em để bác đến đấy liên hệ nhờ các đồng chí ấy giúp đỡ. Chị nói với bọn trẻ: Các cháu ở nhà, bác đi một lúc sẽ về ngay. Thùy khoác áo tơi lên người, Thắng độc nhãn vỗ tay: Sư phụ lên đường thỉnh kinh có cần đồ đệ không ạ? Thùy gật đầu: Phải rồi, cho Sơn đi cùng bác. Nam Hà vào nhà lấy cho bác cái gậy. Lấy gậy đưa cho bác, Nam Hà nhìn Thắng độc nhãn ỉu sìu, nói kháy: Biết chưa? Cốc mò cò xơi. Thắng độc nhãn càu nhàu: Nếu tớ đủ hai mắt, thằng Sơn đừng hòng tranh phần.

Mưa mỗi ngày một mau, bầu trời xám xịt, sấm chớp nhì nhằng, nước dâng tràn qua đường, trời tối om, mưa xối xả, gió tạt mạnh. Hai bác cháu lọ mọ đi, lợi dụng những hàng cây ven đường định hướng. Thùy nhắc Sơn: Chỗ nào đường trơn con bám vào bác, nghe! Sơn đưa tay bám vào bác không đáp. Cuộc đời thật éo le, Thùy không ngờ lại gặp Hoa trong cánh này. Bỏ đi không nỡ, nhưng còn ở lại? Bỗng trong đầu chị bật ra ý nghĩ: Có lẽ phải viết thư báo cho sư trụ trì biết, trong thư sẽ nói rõ cho sư thầy hiểu. Mình sẽ đi khất thực cùng Hoa nuôi bọn trẻ. Con người mù quáng nhưng trời, phật không có mắt sao? Trong mưa gió bão bùng, bỗng dưng hình ảnh những ngày sống trong rừng núi Trường Sơn hiện về trong đầu chị.
 
283 ❤︎ Bài viết: 1434 Tìm chủ đề

Chương 24​


20261031-091533-176bdb53f9.png


24

Thời gian đầu dẫn quân, Thùy đi cùng Hoa, hướng dẫn cho cô cách đánh dấu và định vị phương hướng. Thùy có lối huấn luyện rất thực tế, lấy những chuyện mình đã gặp kể lại cho Hoa nghe. Này, đêm mô trăng thanh gió mát nỏ được phởn chí, cẩn thận với bọn máy bay trinh sát, nghe rẹt rẹt cái là đã bay qua mình lúc lâu rồi. Nhắc nhở các chiến sỹ đi đúng hàng, truyền lệnh rõ ràng, đừng có "bên đường có hố" thành "bên đường có Hổ" là bỏ bà đấy! Bám sát nhau đề phòng lạc. O chịu khó tập phân biệt tiếng máy bay đi. Ở rừng Trường Sơn nghe bên nớ tức là nó bay bên ni nghe chưa? Máy bay bay từ hướng Bắc bay về nỏ sợ, như rứa nó đã rải hết bom rồi, còn bọn bay từ Nam ra thì liệu hồn, nghe ì ì xa xa mà lớ xớ bom tấn, bom tạ ỉa xuống đầu mi đó..

Thùy ngạc nhiên vì Hoa chóng quen với công việc và thích nghi với điều kiện sống ở Trường Sơn. Sau chuyến thứ ba Thùy quyết định cho Hoa tự dẫn quân đi một mình. Giờ thì Hoa đã thành "ma cũ", xông xáo, hăng hái, nhưng hễ gặp Thùy lúc nào là đề nghị xin chuyển vào tuyến trong. Thùy biết tỏng động cơ của Hoa là gì, miệng vẫn ngọt nhạt: Cứ thư thư, khi mô mình đề đạt với cấp trên giải quyết nguyện vọng, o phải kiên trì, người yêu chứ có phải cái kim để trong túi mô mà dễ thấy! Nhưng đến khi sinh hoạt Thùy lại phát biểu: Các đồng chí phải xác định lập trường, không được có tư tưởng đứng núi nọ trông núi kia. Là chiến sỹ giao liên ở mô cũng là phục vụ.. Hoa buồn mất mấy hôm nhưng rồi lại như chim sáo, buồn cũng chẳng giải quyết được gì, mình và Hải có thần giao cách cảm, kiểu gì mà chả gặp, ý nghĩ của cô ngây thơ mộc mạc vậy.

Một dạo quân vào đông, có những đơn vị chờ lâu, chỉ huy đến trạm gặp Thùy cáu, chửi bậy, ngay như hồi chiều nay, chỉ huy một đơn vị trinh sát vẻn vẹn có chục người, phải nằm chờ hai ngày, lên trạm đèo xíu, văng * dái ra hàng rổ. Hoa nghe khó chịu, trông thằng cha ấy không đến nỗi, cao ráo, sạch sẽ, nước da báo hiệu đã từng trải trên chiến trường, thuộc diện "ma cũ", thế mà chỉ được cái nói năng hàm hồ.. Đấy là chị Thùy, chứ phải tay Hoa thì gã kia được một trận rồi muốn đến đâu thì đến. Nhưng chị Thùy vẫn tươi cười, tịnh không tỏ thái độ gì, cứ một hai các đồng chí thông cảm, rồi lựa lời giải thích.

- Phải kiên trì - Lúc sau Thùy nói với Hoa - Eng này trông vậy nhưng hiền khô. Hoa hỏi: Sao chị biết? Thùy đáp: Thì eng nớ qua lại trạm ni mấy lần rồi tau lạ chi! Lính trinh sát thâm niên trong Trường Sơn đó nghe! - Thùy nói thêm - Lần này chắc có đánh lớn. Các eng nóng ruột muốn vào chiến đấu cũng vì dân vì nước cả, cáu giận là chuyện bình thường, mình mần răng nói để các eng hiểu, thông cảm cho trạm. Mần chiến sĩ giao liên như mần dâu trăm họ, đơn vị mô cũng muốn đi trước, vậy phải căn cứ vào tình hình cụ thể để giải quyết. Hoa nghe chị Thùy nói vừa cảm phục vừa thấy tức như bị bò đá.

Hoa kiểm tra lại tư trang cá nhân, soát lại khóa thắt lưng đeo dao găm và lựu đạn, chuyển khẩu súng AK về phía trước, như vậy có động dễ xoay xỏa. Đêm nay dẫn đoàn quân có cái lão chỉ huy trinh sát nói năng bậm trợn kia, mình mà để sai sót hay nhầm đường thể nào lão ấy cũng cho ăn đủ. Đời giao liên vậy, dẫn quân xong về hầm trú ẩn lăn ra ngủ, chiều vừa nhai lương khô vừa nhận nhiệm vụ, tắm rửa qua loa, nghiên cứu địa bàn hành quân, chuẩn bị tư trang tới địa điểm tập kết đưa quân đi. Tập nói ít, tập im lặng, tập quyết đoán một mình. Lúc làm nhiệm vụ, chiến sĩ giao liên là chỉ huy, đường đi lối lại, mọi tình huống, sự sống chết của đoàn quân do giao liên quyết.

Hồi chiều, Thùy phổ biến trên binh trạm thông báo xuống cho các trạm biết: Ban ngày địch sẽ tăng cường máy bay đánh phá, còn ban đêm tăng cường cho biệt kích thám báo lùng sục, yêu cầu các chiến sỹ giao liên phải luôn sẵn sàng ứng phó. Hoa chưa đụng bọn này bao giờ, nghe chị Thùy kể chuyện gặp thám báo Hoa rùng mình, thà cứ đối mặt nhau không sợ, đằng này đang hành quân, bỗng nhiên bọn chúng như đội mồ chui lên, bất thần từ các phía trong rừng nã đạn tới. Triển khai chiến đấu xong thì quân ta đã bị thương vong, mà tụi nó thường chú ý nhắm diệt tốp đi đầu. Giao liên hy sinh đoàn quân như rắn bị giập đầu.

Giá chi ta có con mắt đồng tử con ngươi vàng và cái tai nghe ngàn dặm của Tôn Ngộ Không nhỉ? Hoa bật cười vì ý nghĩ ngộ nghĩnh của mình rồi móc túi xem đồng hồ: Còn mười phút nữa. Tranh thủ tý, Hoa ngồi xuống mở ba lô lấy tấm ảnh Hải ra ngắm. Này, có biết em cũng đang ở cùng anh trong rừng Trường Sơn không, sao cứ trốn mãi, hay anh lại vào sâu trong kia rồi? Mấy đứa cùng binh trạm với em xem ảnh anh thích lắm! Bọn chúng khen mắt anh đẹp, cười duyên, nói khi nào tìm anh được cho chúng "chơi" cùng. Em ứ đồng ý đâu! Anh là của riêng em, là báu vật của đời em, sao em lại chia cho ai được..

- Mơ gì đấy cô bé? - Tiếng nói đàn ông làm Hoa giật mình, cô đánh rơi tấm ảnh xuống đất.

- Ai cho phép đồng chí gọi tôi là cô bé? - Hoa nhận ra tay chỉ huy đoàn lính trinh sát cáu bẳn hồi chiều.

- Đây là người yêu của cô phải không? - Anh nhặt tấm ảnh lên ngắm nghía.

- Sao? Đồng chí biết anh ấy à? - Hoa hỏi, chăm chú theo dõi thái độ của anh ta.

- Xem nào.. - Anh ta một tay chống gậy tay kia giơ tấm ảnh lên vẻ chăm chú hồi lâu rồi liếc nhìn Hoa vẻ láu cá - Rất tiếc, tôi chưa gặp anh ta một lần nào.

- Thế mà nói cứ như gặp rồi ấy! - Hoa cụt hứng, vùng vằng giật tấm ảnh lại - Đồng chí về chuẩn bị cho anh em xuất phát.

- Chúng tôi còn ba đồng chí nữa chưa có mặt, xin phép chờ nửa tiếng nữa được không ạ?

- Không được! - Giọng Hoa dứt khoát - Đặt trường hợp lính tráng của đồng chí sợ chết đảo ngũ thì sao?

- Đồng chí đã biết lính của tôi thế nào mà ăn nói hàm hồ thế?

- Không nói nhiều! Ai chửi bới ca cẩm với thủ trưởng Thùy là đã chờ thối thây rầy mả rồi? Bây giờ được đi lại.. - Nhưng cái nhìn của anh không để cô nói hết câu. Nhìn gì mà bặm trợn vậy? - Hoa cầm gậy chống đất đứng dậy - Đồng chí muốn gì xuống gặp thủ trưởng trạm mà yêu cầu, tôi không giải quyết được!

Anh bộ đội chìa tấm giấy ra:

- Thì chính vì đồng chí không giải quyết được nên tôi mới mang ý kiến của thủ trưởng trạm đây.

Hoa cầm mảnh giấy, ý kiến của chị Thùy đồng ý cho đoàn xuất phát chậm nửa tiếng. Cô lừ mắt:

- Thế sao đồng chí không nói ngay?

- Nhưng tôi không muốn động đến tình cảm riêng tư của nhau - Tay chỉ huy trinh sát dí dỏm, Hoa đỏ mặt, ngúng nguẩy, anh ta chủ động - Người yêu của cô tên gì?

- Là chiến sỹ giải phóng quân - Hoa đáo để.

- À, thế là cùng đồng đội với tôi rồi. - Anh ta giọng hóm hỉnh.

- Xạo! - Hoa bĩu môi.

- Cô không tin chiến sĩ giải phóng quân hả? - Anh ta nghiêng đầu nhìn thẳng vào mắt cô.

- Chiến sỹ giải phóng quân mà nói năng bừa bãi! - Hoa đáp, tránh cái nhìn của anh.

- Ai bảo bắt chúng tôi ăn đợi nằm chờ gần một tuần rồi? Chiến trường đang vẫy gọi, không vào kịp nhỡ đơn vị khác giải phóng mất miền Nam thì sao? - Tay chỉ huy trinh sát hỏi vặn.

Chỉ được cái bẻm mép, nghĩ vậy nhưng Hoa không nói ra, cô hỏi:

- Anh hỏi tên anh ấy để làm gì?

Một cái liếc xéo ranh mãnh:

- Tôi hỏi để nếu có gặp tôi sẽ mách cho anh ấy biết người yêu của đồng đội đang ở trạm 13, xinh đẹp nhưng khét tiếng là đáo để.

Hoa bật cười, giờ sao ăn nói lại nhẹ nhàng thế, chẳng bù cho lúc gân cổ chửi bới chị Thùy. Hoa liếc trộm, bất ngờ gặp ánh mắt anh đang chăm chú nhìn mình. Cô bẽn lẽn:

- Anh ấy tên Hải, người ở huyện Hương Thuỷ thành phố Ninh Hải, vừa thi đỗ đại học xong thì đi bộ đội.

- Thế ra người yêu cô ở Hương Thuỷ - Tay chỉ huy nhóm trinh sát ngồi xuống bãi cỏ vòng chân xếp chữ ngũ - Hồi ở nhà tôi cũng đã sang đấy mấy lần rồi, vì quê mẹ tôi ở huyện cạnh mà. Nhưng đất Hương Thuỷ mênh mông thế mà dân gần biển đi bộ đội thiếu gì người tên Hải, hỏi thế có đến mùa quýt sang năm chắc gì đã gặp.

Người đâu mà lắm lý luận, nhưng thôi, nhỡ đâu vào anh ấy gặp thì sao. Nghĩ vậy Hoa trần tình:

- Trần Thanh Hải, sinh năm 1952 quê ở xóm Ninh Thuỷ, xã Ninh Hồ, huyện Hương Thuỷ, nhà ở cửa biển gần bãi tắm Ninh Thuỷ. Trình bày thế rõ chưa đồng chí?

- Chưa! - Tay chỉ huy lính trinh sát đáp cụt lủn.

- Đồng chí còn muốn thế nào nữa? - Mặt Hoa vênh lên.

- Đấy mới là họ nhà trai - Tay chỉ huy hóm hỉnh - Còn phía bên nhà gái nữa, tên gì? Tuổi bao nhiêu? Cùng quê hay khác quê?

- Thì đồng chí cứ hỏi thế khắc ra, cần gì phải họ nhà gái - Môi Hoa dẩu lên.

- Nhưng người mối cần biết tên họ nhà gái để khỏi nhầm - Giọng tay chỉ huy trinh sát đủng đỉnh.

- Tên em là Hoa, nhà ở phố Âu Cơ, thị trấn Hương Thuỷ - Hoa khai thành thật.

- Biết rồi - Anh bộ đội reo - Nhà cô ở gần nơi có lễ hội "lật khăn mở mặt" chứ gì?

- Sao anh biết? - Hoa hỏi.

Anh bộ đội đứng dậy, phủi những chiếc lá bám trên quần:

- Thảo nào tôi trông cô quen quen..

- Anh nói khoác! - Hoa cũng đứng dậy theo - Ở nhà lúc ra đường chưa bao giờ em bỏ khăn làm sao anh biết được.

- Thế mà tôi biết mới tài chứ! - Tay chỉ huy trinh sát nheo một mặt nhìn cô - Nhưng thôi, để khi khác nói chuyện tiếp, bây giờ tôi về chuẩn bị cho anh em hành quân. Thế cô có đi luôn cùng tôi không?

Hoa lắc đầu:

- Đồng chí về trước cho anh em chuẩn bị, đúng năm phút nữa xuất phát, nếu chậm có gì xảy ra các đồng chí hoàn toàn chịu trách nhiệm.

- Báo cáo đồng chí nữ giao liên, rõ! - Anh ta rập gót đứng nghiêm rồi quay đi.

Hoa nhìn theo, bỗng sực nhớ quên không hỏi xem anh ấy tên gì, mình rõ là người vô tâm.
 
283 ❤︎ Bài viết: 1434 Tìm chủ đề

Chương 25​


20261031-091614-a9747ff761.png


25

Nước biển dâng cùng với mưa lớn ứ lại chảy ngược vào cánh đồng. Khu trại vật vờ trong ánh chớp, nhà cửa, cây cối bị gió giật vặn vẹo, mỏng manh, yếu lả. Nước tràn vào sân, leo quai bậc thềm ùa vào nhà, ngọn đèn bão treo lơ lửng chao như đảo đồng chực sáng chực tối. Cơ chừng này nước còn lên - Bình rủ rỉ. Vắng người lớn, bọn trẻ nháo nhác như gà con mất mẹ. Doan cũng lo, nhưng bề ngoài tỏ ra cứng rắn, nó hạ lệnh cho bọn trẻ trèo lên sạp. Nước sôi ùng ục, rơm rác trôi lềnh phềnh, bức vách lâu ngày gặp nước bở bục, thi thoảng lại rơi đánh ùm một tiếng. Lên giường rồi đi đâu? Doan nhìn lên nóc nhà tính toán rồi quay lại bảo Bình: Anh trèo lên xà nhà cho em. Bình ngơ ngác: Để làm gì? Doan nói: Anh cứ lên đi rồi sẽ rõ.

Dưới ánh đèn nhập nhoạng, trông Bình như con vượn, hai chân thoăn thoắt, tay bám sà nhà đu lên cây nóc. Bên dưới, Doan lệnh cho bọn trẻ dỡ sạp, chuyển tre, nứa, dây dợ lên cho Bình buộc. Một lúc sau công việc hoàn thành, cả bọn leo lên ngồi áp sát mái. Tiếng mưa quất, gió lùa tạo âm thanh rít rợn, giật giã, ngôi nhà đu đưa như võng. Bọn trẻ túm tụm, ne nép, co cụm quanh Doan. Doan an ủi: Yên chí, lát nữa mẹ về. Thắng độc nhãn níu tay chị, thì thào: Nhỡ mẹ không về kịp thì sao? Doan giả bộ, nạt: Sao lại không về? Mẹ hứa với chị về ngay mà! Thắng độc nhãn lầm bầm: Em có nghe mẹ hứa với chị đâu mà, chị chỉ giỏi bịa. Doan đưa ra một lý do chắc chắn: Nếu mẹ không kịp về thì đã có bác Thùy và Sơn thể nào cũng nhờ được các chú ở đội bảo vệ bờ biển.

Nói cứng vậy thôi, thực tình Doan còn lo hơn. Bình mang tiếng lớn nhưng tính tình hẫm hỡ thế nào ấy, bảo gì làm nấy, chẳng có sáng kiến gì. Người vậy mà lại biết trồng nấm? Nghe mẹ Thương giới thiệu, Doan hoài nghi. Người ngợm trông như thổ phỉ, da đen, tóc dài hơn cả tóc con gái, mặc toàn vải mầu xám, lại theo cái đạo gì không biết. Vừa về đến trại đã đòi mẹ Thương cho ngay một gian ở riêng, ra, vào cửa khóa then cài; không hương khói nhưng ăn chay, uống nước lã, ngủ chiếu cói rải ngay trên nền nhà, tối tối tọa thiền, chân khoanh, tay chắp, mắt lim dim, miệng lẩm nhẩm. Doan hỏi: Anh Bình theo đạo gì đấy? Bình không trả lời, môi nở nụ cười rất hiền, tay chỉ lên trời, chỉ vào mình, chỉ xuống đất.

Doan thắc mắc, mẹ Thương nói: Anh ấy tự nghĩ ra đạo mà theo chứ có ai xúi bẩy gì đâu. Trời ạ, như bác Thùy một nhẽ. Bác mang căn cơ từ kiếp trước, phải ăn chay niệm Phật, hành khất để trả nợ tình duyên đã đành. Mà đạo bác Thùy theo là đạo Phật, thứ đạo cả nước chỗ nào cũng có. Còn anh Bình.. Doan lắc đầu.. Kệ, nghĩ làm gì cho mệt, đạo gì thì đạo, miễn là cứ trồng nấm thành công là được.

- Ị Oan ơi - Bỗng Ngọ ngọng kêu lên, chỉ xuống dưới - Ước ên ến ửa ổ ồi ia ìa (Chị Doan ơi, nước lên đến cửa sổ rồi kia kìa). Quả thật, nước lên nhanh quá, thoắt cái đã mấp mé cửa sổ. Thôi chết! - Doan kêu thầm - Phải làm sao đây? Chợt Doan nói to: Anh Bình bơi ra cây bưởi ngắt hết quả vào đây cho em! Bình hỏi lại: Ngắt bưởi làm gì, sao nói bưởi để đến rằm trung thu? Đến trung thu tính sau - Doan đáp - Anh cứ vặt hết, tìm túi ni lông cho vào, không có túi, tìm lạt, xâu vào chia ra. Đứa lớn bốn quả, đứa bé ba quả, phát cho chúng nó thay phao để phòng nước lên. Chà chà chà.. Đúng là "khó ló cái khôn". Sáng kiến của Doan mới "vĩ đại" làm sao. Bình cầm bao tải tụt xuống, bì bõm bơi ra sân, trèo lên cây bưởi.

Trong lúc chờ đợi, Doan lệnh cho Ngọc Anh: Ngọc Anh đâu, cầm càng cho mọi người hát! Ngọc Anh ngạc nhiên, giữa lúc mưa to, gió lớn này, vui vẻ gì mà hát. Tuy vậy, lệnh của chị Doan không lơ mơ được, nó hỏi: Hát bài của mẹ hay hát bài của cô giáo dạy? Doan đáp: Đầu tiên là liên khúc của mẹ, sau đó mới đến những bài của cô giáo. Ngọc Anh dõng dạc: Nào, tất cả chuẩn bị: Như những cánh chim bay, hai, ba!

Chúng hát hay chúng gào không rõ nữa, đứa nào đứa nấy ngoác mồm dồn sức vào lời ca, và dường như tiếng hát làm cho bọn chúng đỡ sợ hơn. Ngoài trời mưa vẫn rơi, gió vẫn thổi, sấm sét vẫn gầm gào, nhưng không át nổi. Tiếng hát xuyên qua dông bão, thổi vào những trái tim nhỏ nhoi những hy vọng, cho bọn trẻ một niềm tin vào cuộc sống..

Thu xếp xong cho cho bọn trẻ Thương và người đàn ông vội vã trở về trại. Mưa to, nước từ mọi nơi đổ dồn về mỗi lúc một dâng cao. Người đàn ông mượn được chiếc đò nan, hai người khiêng ra bờ đê thả đò xuống. Lúc này nước đã ngập đến lưng chừng đê. Cả một vùng mênh mông những nước là nước. Trong ánh chớp, chỉ còn phân biệt được đường đi nhờ vào hàng cây phi lao trồng hai bên đường. Ngừời đàn ông lái, Thương chèo, dòng nước lật ngang, lúc chảy xuôi lúc chảy ngược tạo xoáy khiến tốc độ con đò chậm như rùa bò. Người đàn ông nhảy xuống vừa bơi vừa đẩy. Thương ra sức chèo, lấy tay vuốt nước mưa trên mặt, giục: Nhanh lên bác, em lo cho bọn trẻ và chị Thùy lắm. Người đàn ông nói: Không hiểu cô giáo có báo cáo cho thành phố biết không nhỉ?

Nghe người đàn ông ca cẩm, Thương chợt nghĩ đến Hải, anh ấy là Trưởng ban chống bão lụt thành phố Ninh Hải. Thành phố rộng, nằm ngay cửa biển, công việc nhiều, chắc gì Hải có thời gian nghĩ tới trại nấm Linh Chi? Tuy nghĩ vậy, nhưng thực trong thâm tâm, không hiểu sao chị rất muốn giờ này Hải cho người đến cứu mẹ con chị.

Con đò luồn lách giữa hàng cây ven đường. Gió thổi mạnh, nhiều lúc con đò bị gió tạt muốn lật. Người đàn ông vớt được cây nứa, ông nhảy lên dùng làm sào đẩy. Con đò đi nhanh hơn. Đến ngã ba đường về trại, bỗng Thương nghe tiếng hát từ trong trại vọng ra, những lời ca quen thuộc, chị không nhận ra tiếng từng đứa, giọng của chúng kết thành một khối. Đây chắc lại là trò con Doan nghĩ ra? Thương mỉm cười nhưng khoé mắt cay lịm. Các con ơi, mẹ đang về với các con đây.

Đúng lúc đó, từ phía trên, một đợt gió dồn mạnh, sóng nước dâng làn liên tiếp vập vào thân đò, con đò chao mạnh, Thương chới với.. "Rục". Đáy đò bục một mảng, chân Thương hụt hẫng, nước xối xả tràn, Thương bị mất thăng bằng ngã nhào. Người đàn ông nhao xuống nước, kêu: Bục đò rồi. Không đáp, Thương quải tay bơi về phía trại. Người đàn ông sải tay bơi theo.

Khi Thương và người đàn ông vào được đến nơi, bọn trẻ đã chễm chệ ngồi trên nóc nhà, mỗi đứa ôm bọc bưởi. Thương hét lên: Các con ơi mẹ đây. Nghe tiếng mẹ, cả lũ òa lên reo mừng. Thương hỏi: Thế bác Thùy đâu? Doan đáp: Bác đưa em Sơn đi tìm bộ đội rồi. Chị sờ soạng từng đứa, lắp bắp: Không.. Không thiếu đứa nào chứ Doan? Doan đáp: Vâng, còn nguyên mẹ ạ. Anh Bình và con đã chuẩn bị cho mỗi đứa một bọc bưởi làm phao rồi. Phần mẹ đây - Doan dúi vào tay mẹ túm bưởi - Riêng mẹ năm quả. Con Ngọ liến thoắng: Ẹ ơi, ung u ày ông ó ưởi ăn ồi. (Mẹ ơi, trung thu này không có bưởi ăn rồi) Thương ôm chúng xót xa: Khổ thân các con tôi.

Người đàn ông hỏi: Bây giờ làm thế nào hả chị? Thương đáp: Tôi không sợ nước dâng mà sợ nước rút. Nếu nước rút e cái nhà này không chịu nổi. - Nghĩ vài giây, người đàn ông bàn - Hay để tôi dìu hai đứa một vào? Thương lắc đầu: Từ đây vào đê chắn phải đến ba cây số, không có phao không bơi được. Lát nữa anh bơi đằng trước tìm đường, bọn trẻ bơi theo anh, còn tôi và cháu Bình bơi sau. Doan hiến kế: Hay lấy dây buộc tất cả vào nhau mẹ ạ. Sống cùng sống, chết cùng chết. Nghe Doan nói vậy, Thắng độc nhãn đồng tình: Đúng đấy, mẹ bơi đi đâu chúng con theo đấy, có bưởi làm phao rồi.

Thương bật cười, đúng là suy tính của trẻ con. Chị nói to: Bây giờ các con nghe mẹ dặn này. Nước sẽ còn lên nữa, chúng ta không ở đây được, phải bơi vào bờ. Nào, theo thứ tự, bắt đầu từ Ngọ, Hồng, Nam, Hà, Thắng.. Chưa nói xong câu, đúng lúc ngôi nhà bị nước duềnh lên, những cơn sóng ào tới, mái nhà sụp xuống Thương hét to: Các con, ôm lấy phao. Bọn trẻ nghe theo lệnh, tay ôm bưởi, chân vỗ nước bùm bùm. Doan bơi cạnh Thắng, chân không cử động được, đành một tay ôm "phao" còn một tay ra sức khỏa.

Nhưng sức bọn trẻ có hạn, bơi được một lúc thì mỏi. Chúng buông xuôi, tay ôm bưởi thả người lập lờ trên nước. Tiếng Thương gào trong mưa bão: Các con cố lên, đừng để nước cuốn đi. Thắng độc nhãn kêu: Mẹ ơi, con chẳng nhìn thấy gì hết! Doan bơi cạnh nó, động viên: Cố lên em. Thắng độc nhãn cự lại: Nhưng chị cứ vỗ nước vào mặt em, làm em chẳng nhìn thấy gì cả. Thắng vừa dứt lời, một con sóng ào tới táp vào mặt hai đứa. Doan chới với, vòng bưởi tuột khỏi tay bị nước cuốn đi trôi lềnh phềnh. Doan ra sức khỏa tay cố với, nhưng bị đôi chân bất động trì níu kéo xuống, khiến cả thân người chìm dần. Hoảng hốt, Doan vùng vẫy nhoai người lên, há miệng kêu cứu: Cứu.. Cứ.. Cứ.. Tiếng kêu bị sóng nước tràn vào miệng khỏa lấp..

Cùng lúc đó, Bình quay lại, không thấy Doan đâu, Bình hỏi Thắng: Chị Doan đâu em? Thắng đáp: Em không biết, chị vừa ở đây mà. Bình nhớn nhác ngó quanh, chỉ nhìn thấy rác rưởi trôi đấy xunh quanh. Bình hốt hoảng buông túm bưởi, hít hơi lặn xuống mò mẫm. Phải mất ba hơi lặn Bình mới tìm được Doan. Bình tóm tóc kéo Doan lên khỏi mặt nước, Doan há miệng thở lấy thở để, tay bám chặt lấy Bình. Cả hai chồi lên chồi xuống như giã gạo. Bình hét: Doan, buông anh ra không chết cả bây giờ. Bàn tay Doan nới lỏng. Bình nhoai người kéo dây bưởi lại: Doan, cầm lấy "phao" - Bình nói, dùng một tay luồn vào bụng nâng Doan lên còn tay kia ra sức khỏa. Vừa lúc ấy Thắng vớ được cây chuối, đẩy về phía hai người: Anh Bình ơi, cho chị Doan bám vào dó. Bình tóm ngọn chuối kéo lại, Doan ôm cây chuối ngửa mặt lên thở. Bình vừa bơi vừa đẩy. Nhưng cây chuối còn nguyên những tàu lá nên rất khó trôi. Bình lấy răng dứt từng cuống lá. Xong việc Bình bảo Doan: Em nhớ bám chặt để anh đẩy. Trong ánh sáng của những tia chớp, Bình nhận ra miệng Doan mếu xệch. Bình nhích tới gần: Lại định khóc nhè phải không? Doan lắc đầu, nhưng nước mắt vẫn tràn trụa tứa ra. Bình an ủi: Không sao rồi Doan à, đừng khóc em. Doan bặm môi cố nén, đăm đăm nhìn Bình, rồi bất ngờ quàng tay ôm chặt lấy Bình hôn tới tấp. Lẫn trong nước mưa, Bình cảm nhận được những giọt nước mắt nóng hổi thấm đẫm trên môi mình.

Chợt trên trời xuất hiện tiếng động cơ máy bay. Bình và Doan ngửa cổ lên nhìn. Chiếc máy bay lên thẳng hạ độ cao, ánh đèn quét trên mặt nước loang loáng rồi bay vòng quanh chỗ bọn trẻ đang bơi. Tiếng loa từ trên máy bay vọng xuống: A lô, a lô, chị Thương ơi, tôi là Thành, Phó trưởng ban chống bão, lụt của thành phố Ninh Hải đây. Bây giờ chúng tôi sẽ thả phao cứu hộ xuống. Chị hãy động viên các cháu thật bình tĩnh. Hiện nay chúng tôi đã liên lạc được với tàu cứu hộ của đơn vị bảo vệ bờ biển rồi. Chị và các cháu cứ yên tâm..

Vậy là các anh ấy còn nhớ tới mình, Thuưng thở phào. Giữa lúc nguy cấp, Thuơng càng thấm thía tình đồng đội, đồng chí.

Từ trên máy bay, những chiếc phao được thả xuống, kèm theo là bánh mì và chai nước đóng vào túi ni lông. Người đàn ông và Bình lập tức bơi ra vớt lấy. Bọn trẻ vui mừng bám lấy phao. Thương bóc túi lấy bánh mì và nước chia cho chúng nó.

Khoảng nửa giờ sau từ phía biển, ánh đèn tàu cứu hộ rọi tới, trên cao, chiếc máy bay trực thăng dẫn đường. Doan gào to: Bác Thùy về rồi. Tất cả bọn trẻ reo ầm ĩ: Bác Thùy ơi, chúng cháu ở đây. Những bàn tay nhỏ bé giơ lên vẫy, giọng chúng khản đặc. Chiếc ca nô tới gần. Đúng là bác Thùy thật, tà áo nâu sồng bay trong gió, trông bác như Phật Bà Quan Thế Âm đứng trên mũi ca nô cùng với các chiến sĩ mặc quân phục mầu xanh nước biển.
 
283 ❤︎ Bài viết: 1434 Tìm chủ đề

Chương 26​


20261031-091653-dc232da438.png


26

Trong rừng trời tối sớm, khi Hoa đến địa điểm tập kết toán lính trinh sát đã chuẩn bị, hàng ngũ chỉnh tề, quần áo tư trang, ba lô, vũ khí đạn dược, giầy, dép đầy đủ, những miếng lân tinh gắn sau mũ phát quang sáng mầu xanh nhấp nháy.

- Đồng hương ơi tên gì đấy?

* * *

- Bỏ khăn ra cho anh xem mặt nào, xấu xí lắm hay sao mà bịt khăn kín thế kia!

* * *

- Người quê đâu mà kiêu kỳ, chắc rỗ nhằng rỗ nhịt mới không dám bỏ khăn ra.

- Lính trinh sát mà cũng lắm lời ghê. Hoa mặc, kinh nghiệm nhiều rồi, hễ đáp lại họ một lời tức là châm lửa vào dây cháy chậm, sẽ có hàng chục tiếng đáp lại, đủ những câu trêu chọc, vui đùa, bông phèng và không thiếu những lời tục tĩu. Lính chiến trường mà, mấy khi được nhìn thấy con gái trong rừng Trường Sơn. Cô không trách, các anh ấy đang vào nơi hiểm nguy, cũng như người yêu của mình thôi, xa quê hương, xa gia đình, xa tất cả, cùng chung nhiệm vụ giải phóng đất nước, trêu đùa quá lời một chút có sao đâu.

- Đề nghị thủ trưởng Lai cho anh em hò - Một chiến sỹ lên tiếng.

- Tất cả im lặng! Hò vè gì, chuẩn bị hành quân! - Tiếng tay chỉ huy trinh sát nói to.

- Hôm nay không hiểu sao ông Lai hắc xì dầu thế không biết! - Tiếng một người lính.

- Có gái mà lị! - Tiếng đáp lại.

- Đồng chí nào nói gì đấy? - Tiếng tay chỉ huy trinh sát hỏi.

- Thưa thủ trưởng Lai, anh em đề nghị được xem mặt chỉ huy giao liên ạ. Nhỡ có làm sao khỏi ân hận.

- Mẹ kiếp! Ai cho cậu nói gở thế? - Có tiếng chửi.

- Tất cả nghe lệnh tôi: Im lặng! - Tiếng hô lớn vang lên.

Tất cả im bặt. Thế ra anh ta tên là Lai. Cô đi đến hỏi nhỏ:

- Quân số đầy đủ chưa đồng chí Lai?

- Báo cáo nữ đồng chí giao liên, tất cả sẵn sàng chờ lệnh!

Hoa cảm tưởng trong câu nói của anh ta có cái gì như diễu cợt, cô nghiêm giọng:

- Đề nghị nghiêm túc, đồng chí truyền lệnh của tôi: Kiểm tra tư trang lần cuối!

- Rõ! - Nghe giọng, Lai biết cô bé không đùa, lập tức anh truyền khẩu lệnh cho người phía sau - Kiểm tra tư trang lần cuối!

Tiếng truyền lệnh nối dài như một chuỗi thanh âm không dứt. Hoa lệnh tiếp:

- Xuất phát!

Đoàn quân đi, bóng tối bao trùm, ánh lân tinh lấp láy, trên trời tiếng máy bay ầm ì vọng lại, đèn dù từ phía xa treo lơ lửng, ánh sáng chập chờn phủ lên rừng núi Trường Sơn lấp loáng. Tất cả căng mắt trong đêm, thần kinh căng như dây đàn. Chỉ còn nghe tiếng dép nhấm nhách và tiếng xốc ba lô loạt xoạt, tất cả lùi lũi bước, tính mạng phó thác trên vai một cô gái nhỏ nhắn.

Không biết nay mai còn sống trở về kể chuyện, bọn bạn của Hoa có tin không nhỉ? Hoa nghĩ. Không chừng bọn nó lại bảo mình có ít xuýt ra nhiều. Chúng làm sao hình dung ra nổi những con đường người chiến sĩ giao liên đã đi, có chỗ vừa một bàn chân, người này bước, nhấc chân lên, người sau đặt vào, trước mặt là vách núi cheo leo, hai bên là vực sâu thăm thẳm, bước hành quân trong đêm mịt mù bao lối, phía trước, đằng sau, xung quanh kẻ thù luôn rình rập, trên đầu bom thù luôn sẵn sàng ập xuống, cái chết đến bất thần, cái chết không báo trước, chết ở tuổi đôi mươi, chết theo nhiều tư thế, trong lòng mang nặng hình bóng quê hương, một chiếc khăn tay, một cuốn sổ lưu niệm, một tấm ảnh người thân, một lời dặn dò thương nhớ.. Chợt Hoa nhớ đến Hải. Bây giờ anh ở đâu? Chút kỷ niệm ùa tới. Bỗng có tiếng ỳ ỳ từ xa vẳng lại. Hoa giật mình, tự mắng: Chị Thùy đã dặn trong lúc làm nhiệm vụ cấm không được nghĩ chuyện riêng tư. Vậy mà mình.. Hoa xốc ba lô, bước ra đứng cạnh đường, cố xua đi những hình ảnh về Hải.

Hoa truyền lệnh: Chuẩn bị vượt dốc "Anh Trỗi". Lệnh truyền đến đâu, hàng quân như nín thở, mạch máu trong cơ thể cuồn cuộn, cơ mắt căng cứng. Không hiểu ai đã lấy tên vị anh hùng đặt cho con dốc này. Chỉ biết, nơi đây ác liệt, là trọng điểm, thế dốc cheo leo, hiểm trở, sự giao thoa trên bản đồ đánh dấu hướng hành quân, cổ hút của mọi nguồn tiếp vận, vùng tranh chấp quyết liệt giữa ta và đối phương. Ban ngày năm phút một trận máy bay quần đảo dội bom oanh tạc, ban đêm pháo sáng thắp như đèn trời, phi pháo từ các nơi bắn tới, máy bay trực thăng luôn sẵn sàng đổ quân xuống quây vùng tìm diệt.

Trong cái khó ló cái khôn, tạo ra đường mà đi, mở lối mà tiến! Chiến sĩ giao liên mở một dốc thành hàng chục dốc, một "Anh Trỗi" nhân lên thành nhiều "Anh Trỗi", miễn sao đưa quân đi an toàn, bảo vệ được sự bí mật của các tuyến hành quân.

Đêm nay, Hoa đưa đoàn quân qua dốc "Anh Trỗi 6". Hồi chiều khi hội ý với Thùy, Hoa trình bầy: Quãng này đêm hôm trước chị Hương vừa đụng thám báo, em đoán bọn chúng cho rằng mình chưa dám qua. Nghe Hoa nói, Thùy gật gù: Được, ý kiến của o Hoa tui nhất trí, nhưng o phải chú ý, địa hình bị bom đánh nhiều dễ mất tuyến, vượt qua bên tê phải qua hai ngầm, cẩn thận không lạc lối.

Hoa biết đây là nơi ác liệt, cây cối ở sườn dốc bị bom phát quang đánh trơ trụi, bọn chúng rải chất độc đầu nguồn, mấy tháng nay các chị em trong trạm chưa biết đến gội đầu tắm rửa là gì, chị Thùy công bố: Chỉ ưu tiên cho đứa mô đến kỳ kinh nguyệt thôi, nhưng cũng chỉ được một bi đông. Trời ạ, một bi đông cho một kỳ kinh nguyệt, nay mai hết chiến tranh có còn sống trở về kể lại cho mẹ chắc gì mẹ tin. Mẹ lại cười ngắc ngứ: Con Hoa chỉ giỏi bịa là tài.

Lai đi sát gần Hoa: Hay đồng chí cho anh em nghỉ lấy sức vượt dốc. Hoa lấy gậy chọc chọc vào bờ đá: Nghỉ ở đây để "nướng" quân à? Đồng chí là giao liên hay tôi? Đề nghị không hỏi, chỉ biết chấp hành mệnh lệnh! Chà, đúng là gái Ninh Hải, hắc xì dầu ghê! Nghĩ vậy nhưng Lai an tâm, trong lúc hành quân, tính quyết đoán của người giao liên sẽ tạo niềm tin nơi chiến sỹ.

Hoa đi chậm lại ngang với anh: Đồng chí Lai nhớ lời tôi dặn đây, vượt qua dốc này sẽ còn phải vượt qua hai ngầm cạn nữa, đồng chí truyền lệnh cho các chiến sĩ, cấm tuyệt đối không ai uống nước suối, kể cả dùng viên lọc nước cũng không được. Bọn địch vừa thả loại chất độc mới, nếu uống vào sẽ bị chướng bụng đầy hơi và ỉa chảy, điều kiện cấp cứu không có, chúng ta có ba mươi phút vượt qua dốc và hai ngầm đá, nếu chậm sẽ đến giờ bọn bay đêm oanh kích.

Sao đồng chí biết? Giọng Lai vẻ nghi ngờ. Hoa không trả lời, cô cúi xuống kéo quai hậu dép lên, nắm chặt khẩu AK đứng lên sải bước. Lai quay lại truyền lệnh rồi co cẳng đuổi theo Hoa.
 
283 ❤︎ Bài viết: 1434 Tìm chủ đề

Chương 27​


20261031-091728-d467c4c31b.png


27

Sau cơn bão, nhà cửa đổ ngổn ngang, vườn tược, ao chuôm bị phù sa lấp đầy. Sở Công an cử các chiến sĩ xuống trại giúp đỡ dọn dẹp, dựng lại nhà cửa. Trại nấm Linh Chi dần ổn định. Bên cạnh đó, thành phố xuống tận nơi thăm hỏi, cho quà. Hôm ấy Hải và Thành cũng có mặt, trên danh nghĩa trong ban chống bão lụt của thành phố. Nhìn Hải gầy rộc, Thương xót xa, nhưng bề ngoài mặt tỉnh bơ. Lúc tiễn đoàn về, chị cố tình đi sau. Thành biết ý, đi chậm lại cùng chị. Thành nói: Ngoài việc Sở Công an tổ chức quyên tiền giúp đỡ cho các cháu, anh Hải cũng đã trực tiếp làm việc với bên Sở Lao động - Thương binh xã hội rồi. Việc chu cấp hàng tháng cho hai cháu Minh Loan và Thuý Quỳnh chắc sẽ được. Khó khăn còn nhiều, nhưng ta gỡ dần dần vậy. Nhưng có việc này tôi muốn xin ý kiến chị.. - Thành ngập ngừng.

Thấy Thành ngần ngừ, Thương giục: Việc gì anh cứ nói đi, úp mở làm gì. Thành nói: Đó là việc của cháu Thắng. Tôi định bàn với anh Hải đưa cháu đi khám và điều trị. Không chữa chạy kịp thời cháu bị mù mất. Nhưng trước khi làm tôi muốn hỏi ý kiến chị, sợ chị không đồng ý. Thương nói: Anh Thành vậy mà chấp vặt nhỉ. Thành cười: Tôi chỉ chấp người bảo thủ thôi, còn những người như chị.. Anh ngừng lời. Thương nói: Như tôi thì sao hả anh Thành? Như chị.. - Thành liếc chị như dò thái độ - Nói chị đừng giận, chị nên xem lại phương án trồng nấm đi. Tôi thấy rất vất vả mà hiệu quả thì mù mịt lắm.

Thương nói: Anh Thành ạ, những điều quan tâm của các anh chúng tôi xin nhận. Nhưng còn việc trồng nấm tôi không bỏ đâu. Tôi trồng nấm không phải vì lợi trước mắt, mà vì nghĩa vì tình, vì lời hứa với người đã khuất. Nấm Linh Chi là một loại cây thuốc, có tác dụng đối với những anh em thương, bệnh binh, với cả những đứa trẻ chẳng may bị nhiễm chất độc màu da cam nữa. Thành hỏi: Sao chị biết? Hay chị lại đọc những lời quảng cáo viết trên báo chứ gì? Tin gì mấy thứ đó! Thương dừng lại, hai tay mân mê vào nhau, đáp: Không phải vậy đâu anh. Chính tôi đã được một gia đình người dân tộc Bru chữa vết thương bằng thứ nấm đó. Thành cau mặt lại vẻ không tin: Chị nói thế nào chứ, ở rừng Trường Sơn tìm đâu ra nấm Linh Chi?

Biết Thành hoài nghi, Thương nói: Kể ra thì dài dòng lắm, nhưng nói để anh hiểu vì sao tôi tin vào công việc tôi đang làm. Hồi ở chiến trường ra, tôi còn một gói thuốc bột mà bà con người dân tộc Bru gọi là cây thiêng. Mỗi lần anh Lai lên cơn đau, tôi hòa nước cho anh ấy uống, thấy dịu hẳn. Cùng lúc, tôi nghe, đài, báo tuyên truyền về tác dụng của nấm Linh Chi. Ngờ ngợ, tôi mang lên Viện Di truyền giống nhờ các nhà khoa học xem giúp. Qua kiểm tra, Giáo sư Hoàng, Chủ nhiệm đề tài nấm Linh Chi khẳng định đó là một loài nấm có các thành phần giống như cây nấm Linh Chi. Tôi mua một ít về cho anh Lai dùng thử, quả đúng như vậy. Nhưng nói thực với anh, biết vậy nhưng vì giá thành cao quá, ở hoàn cảnh tôi và Lai đâu có đủ tiền mà mua. Nhân Viện Di truyền giống mở lớp học ngắn ngày, hướng dẫn cách trồng nấm. Tôi bàn với anh Lai cho tôi đi học để về trồng. Nhưng thật tiếc, đang học thì anh Lai mất, mà công việc trồng nấm vẫn chưa đâu vào đâu.

Nhưng chị có tin lần này thành công không? - Thành hỏi. Thương đáp: Biết trả lời anh sao bây giờ? Nhưng tôi đã khấn với anh Lai, cho tôi làm lần này nữa thôi. Tôi thất bại có lẽ do mình chưa hiểu hết. Nhưng lần này không hiểu sao tôi tin sẽ thành công, vì tôi đã có cháu Bình rồi. Tôi tin lắm, vì tôi đã tận mắt nhìn những cây nấm do tay cháu Bình trồng. Biết không gàn được, Thành nói: Vậy tôi không gàn chị nữa. Nhưng có khó khăn gì chị cứ nói, anh em chúng tôi giúp được đến đâu thì giúp. Thương nói: Cảm ơn anh đã có ý tốt. Khó khăn thì nhiều, nhưng phiền mãi các anh sao được. Chỉ cần khi nào trại sản xuất được nấm Linh Chi, nhờ các anh tạo hành lang pháp lý cho khâu tiêu thụ là được. Thành chỉ về phía Hải đang đứng: Kia kìa! - Rồi anh gọi - Mời đồng chí Chủ tịch thành phố lại đây một lát.

Hải đang đứng nói chuyện với chị Thùy, nghe gọi, anh đi tới. Thành nói luôn - Đấy, có yêu cầu gì chị cứ đề đạt với đồng chí Chủ tịch. Thương đỏ mặt, vờ cúi xuống kéo lại quai hậu dép, khi ngẩng lên, bắt gặp Hải chăm chú nhìn mình, chị luống cuống nắm hai tay vào nhau văn vẹo, miệng lắp bắp: Không.. Không.. Không có chuyện gì đâu. Thành vờ như không nghe thấy: Đấy, có gì thì chị cứ mạnh dạn mà trình bày. Nếu được Chủ tịch đồng ý, thì cả thành phố này sẽ là thị trường của chị. Nói xong, Thành bước đi, để mặc hai người đứng với nhau.

Nhìn thái độ lúng túng của Thương, trông đến tội, Hải phá vỡ im lặng: Có yêu cầu gì, em nói đi. Thương im lặng, tự trách mình để mất tự chủ. Trút một hơi thở dài, chị bình tĩnh nói: Xin cảm ơn thành phố đã giúp đỡ chúng tôi trong những lúc hoạn nạn. Hải nhỏ nhẹ: Anh đến đây đâu phải để nhận lời cảm ơn. Thương ngẩng lên, nét mặt đanh cứng: Không nhận lời cảm ơn, vậy anh đến đây làm gì? Sau câu nói là cái nhìn thiếu thân thiện. Hải vội nói: Em đừng hiểu nhầm. Ý của anh muốn nói, ngoài trách nhiệm ra còn là bổn phận anh phải làm.

Trách nhiệm thì có thể, còn bổn phận.. Thương nghĩ thầm. Hải nói đến bổn phận. Bổn phận của sự ăn năn, hối hận hay bổn phận của một kẻ phụ tình muốn bù đắp? Nghĩ vậy, nhưng Thương không nói. Rất may đúng lúc đó xe ô tô chở Hải đi tới. Thương chào: Thôi, xe đến rồi, anh về đi kẻo muộn rồi đấy! Nói xong chị quay đi bước vội. Hải tần ngần nhìn theo rồi mở cửa bước lên xe.

Bão lụt là tai họa, nhưng trận bão muộn mùa ấy lại trở thành ân nhân cứu mạng cho trại nấm Linh Chi khốn khó kia. Chuyện Ban chống bão, lụt thành phố Ninh Hải kết hợp với đơn vị bảo vệ bờ biển đến cứu hộ, và các chiến sĩ công an của thành phố Ninh Hải đến giúp đỡ trại nấm Linh Chi được báo chí, đài phát thanh và truyền hình đưa tin. Cái trại nấm nhỏ bé nằm heo hút gần biển là địa điểm được các cơ quan và những đoàn cứu tế thường xuyên đến thăm hỏi.

Hải nói với Thành trong dịp hai người gặp nhau tại quán "Bánh đúc Hùng hói" : Còn tác dụng hơn cả họp báo ông ạ. Theo thống kê tôi được biết, không kể vật chất, các đoàn thể thành phố Ninh Hải ủng hộ cho Hoa được hơn hai trăm triệu đồng. Chợt Thành hỏi: Tại sao ông không nói rõ ý định tổ chức họp báo là vì cô ấy? Hải đáp: Nếu tôi nói, chắc không bao giờ Hoa đồng ý, và sẽ không có chuyện cô ấy lên gặp tôi mặc cả đòi tiền đâu. Thành cười. Nghe ra hơi ma lanh một chút đấy! Thế bây giờ ta đòi lại hai hai mươi triệu kia chứ? Hải nhướn mắt lên nhìn bạn: Ông không phải đòi, thể nào Hoa chẳng mang lên trả. Ông nhiễm cái bệnh chắc lép từ bao giờ đấy? Thành cười ha hả: Nói vui thôi, nhưng tôi nghĩ bà Hoa lại ném tiền qua cửa sổ thôi. Nấm với nung, hiệu quả đâu không biết, thất bại liền tù tì mấy vụ rồi. Bây giờ lại đặt niềm tin vào cái thằng nửa người nửa pháp sư ấy! Hải nghĩ ngược lại, anh nói: Tôi yêu Hoa vì tính kiên quyết ấy. Đã nói là làm, rất ít khi thay đổi. Thành cười, chấm miếng bánh đúc ngập vào bát tương: Cũng như mối tình hận ghim trong lòng phải không?

Hải gật đầu: Chính thế tôi lại càng yêu cô ấy. Hoa càng muốn xa lánh thì tôi lại càng không thể quên được. Và hơn lúc nào hết, tôi mong Hoa thành công. Nếu công việc suôn sẻ, chắc con người sẽ vợi bớt nỗi cay nghiệt? Tôi cũng muốn vậy - Thành đồng tình - Để cho lòng ông nhẹ nhàng thanh thản hơn. Hải nâng chén uống nốt chỗ rượu còn lại, nhìn thẳng vào mặt bạn, hỏi: Là bạn tôi, ông hiểu sự phức tạp của mối quan hệ ấy, nhưng ông có biết tôi cần gì ở Hoa không? Thành chau mày, hắn ta cần gì nhỉ? Nghĩ mãi không ra, anh lắc đầu. Hải đặt chén xuống bàn, kết luận: Được nhận từ môi cô ấy một nụ cười yêu thương trìu mến mà tôi mang theo hành trang của mình suốt những năm tháng đã qua.

- Trời ơi - Thành thốt lên - Ông lãng mạn quá đấy! Hải lắc đầu: Không, tôi đang nói với ông rất thật! Thành rót rượu ra chén, đưa cho bạn: Tôi không hồ nghi điều ông nói. Nhưng điều không ngờ là một vị chủ tịch quyền thế nhất, nhì cái thành phố này lại lấy cả một tầm vĩ mô để đổi lấy một nụ cười. Tôi thấy ông thật lãng mạn. Hải cầm chiếc chén vê vê: Ông, tôi và một số người thường xuyên mang những điều lớn lao nấp trong bộ mặt cao đạo để giảng giải. Nhưng khuất lấp trong tâm hồn ấy, còn chứa đựng những điều nhỏ nhoi nhưng vô cùng quan trọng. Mối dây hóa cảm không chai lì, khô cứng, giáo điều hay lãng mạn. Mà nó luôn tiềm ẩn nhức nhối như một món nợ tinh thần suốt đời vay suốt đời trả..

- Và mặc dù không bao giờ có kết hậu? - Thành đưa ra một câu giả định. Tôi không cần có hậu - Hải đáp - Đúng hơn, điều có hậu không dành cho những người như tôi. Khi người ta bước đến bậc thang địa vị, quyền chức, thì số phận là một định mệnh bó buộc cùng cái "sân chơi" đã theo, cái đích phải đến. Muốn dừng không được, bỏ không xong - Ngừng một chút Hải nói tiếp - Ông Thành có tin rằng nhiều khi tôi muốn rũ bỏ tất cả, thèm ước sống thật giản đơn, không lý thuyết này, không định lý kia. Chỉ mong làm một con người được yêu thương bằng tình yêu của mình. Nhưng tôi bất lực vì đã tự nguyện sống bằng lý trí. Mà những ai đã sống bằng lý trí nghĩa là đã tự nguyện tước đi những niềm vui thơ trẻ, chấp nhận sự hy sinh và sự hy sinh ấy đã lấy đi những gì là người nhất..

Thành không ngờ Hải mẫn cảm vậy. Trên khuôn mặt bạn, lấp loé những quầng sáng, tối, đôi mắt ưu tư đăm đăm nhìn vào nơi vô định. Khác hẳn với những lúc đứng trên bục, trong cương vị của một người lãnh đạo. Trông Hải lúc này bạc nhược, vẻ bạc nhược của những con người sống với đời thường, với sự trả giá của linh hồn sám hối, của nuối tiếc đớn đau.. Thành muốn chia sẻ với bạn, nhưng anh hiểu, điều đó có ích gì. Đây không phải chiến trường. Chiến trường còn có đạn, bom khỏa lấp. Trước mắt chỉ có hai con đường, tồn tại hay hy sinh. Còn giờ đây, cuộc chiến không tiếng súng, cuộc chiến giữa lý trí và tình cảm. Nhưng lý trí phải đâu lúc nào cũng có thể mang ra làm định hướng - thứ kim chỉ nam khô cằn và cứng nhắc, chiếc gậy lệnh trong tay người chỉ huy. Kẻ vượt qua sự yếu đuối, phải chăng bản thể phải mang dòng máu lạnh? Giá mà được vậy. Nhưng trái với bề ngoài, Hải luôn đặt trái tim mẫn cảm của mình với sự khe khắt đến nghiệt ngã. Mà lĩnh vực tình cảm lại vô cùng rối rắm và phức tạp.

Vậy ông định thế nào? - Thành hỏi. Ngẫm nghĩ một lát, Hải đáp: Tôi muốn giúp Hoa, nhưng nếu để Hoa biết, chắc cô ấy sẽ chối từ. Chính vì vậy tôi muốn nhờ ông, với danh nghĩa đơn vị đỡ đầu cho các cháu mang di họa chiến tranh, tạo điều kiện sao cho cuộc sống của trại nấm Linh Chi khá hơn và ước mơ của Hoa hứa với anh Lai được thực hiện. Ông hiểu ý tôi nói chứ? Thành hỏi lại: Ông có hiểu về Lai nhiều không? Hải gật đầu: Đó là con người có bản lĩnh, nhưng tiếc rằng thời gian hai người sống bên nhau ngắn ngủi quá! Sao họ không có con nhỉ? - Thành hỏi. Hải đưa hai tay lên xoa mặt: Đấy cũng là bi kịch của đời Hoa. Theo như tôi được biết, Lai bị nhiễm chất độc màu da cam, lại bị chấn thương cột sống. Vậy là.. - Thanh buột miệng nhưng rồi anh ghìm lại được nói chệch đi - Vậy là Hoa chỉ mang tiếng có chồng? Hải thở dài: Đúng vậy, giá chi hai người lấy nhau và có con với nhau thì tôi không phải ân hận. Nhưng họ đến với nhau như bi kịch của hai cuộc đời gộp lại.

Tôi hiểu rồi - Thành nói - Nếu giúp được gì tôi sẽ giúp. Nhưng Hải này - Đột ngột Thành cách xưng hô - Ông không nghĩ nếu vợ ông biết được điều này cô ấy sẽ bị tổn thương ư? Hải lắc đầu: Hà Oanh là một thế giới khác! Cô ấy luôn tin vào bức rào ngăn cách tôi với thế giới người đời. Trong mắt Hà Oanh, tôi là người đáng kính. Con đường đi của tôi là tiêu chuẩn cho một lý tưởng. Khuôn mẫu đúc ra tôi được thuần khiết tới mức không thay đổi. Thành nhìn bạn: Tôi hiểu ý ông nói, nhưng không nên để cho cô ấy biết thì tốt hơn.

Hải nhìn Thành phá ra cười: Quả là một lời khuyên chân Thành. Ông có biết như thế là thế nào không? Là phải sống phân thân, là kẻ thích sự thật nhưng lại không trọng sự thật. Phức tạp là ở chỗ đó. Thôi nhé! - Hải đứng dậy kết luận - Chúng ta dừng ở đây, nếu không tôi sẽ biến thành kẻ khác mất. Thành cũng đứng dậy và hỏi - Nếu được biến thành kẻ khác ông có dám không? Đi được mấy bước, Hải đứng lại chờ, đặt tay lên vai bạn, giọng mệt mỏi:

- Tôi đã thành kẻ khác từ khi gặp lại Hoa rồi.
 
283 ❤︎ Bài viết: 1434 Tìm chủ đề

Chương 28​


20261031-091809-7caa126b46.png


28

Bắt đầu là sự mơ hồ, ý thức mông lung, Hoa thấy mình bồng bềnh ngồi trên thuyền bơi giữa hồ và Hải đang ngồi cạnh, bàn tay anh nhẹ nhàng ve vuốt, truyền lan sang người Hoa từng cảm thức kỳ lạ. Có mùi nồng nồng, hăng hắc thoảng vào mũi Hoa. Đúng rồi, mùi Trường Sơn, thứ mùi đặc trưng của chiến tranh, cây cối bị thiêu cháy và khét lẹt vì bom cày đạn xới. Điều đó có lạ gì với những người đã từng sống ở đây, cái quan trọng là em đã tìm được anh, thế là toại nguyện rồi. Vậy mà trước khi đi bọn bạn bảo, rừng núi Trường Sơn hiểm trở, quân ra quân vào vạch lối tìm đường mà đi, làm sao mày gặp được Hải mà mơ. Nhưng em tin vào tình yêu, tin vào thần giao cách cảm của anh và em. Bây giờ thì bọn bạn thua em rồi nhé!

Nhưng sao anh chưa ôm em, anh có biết em chờ đợi giây phút này bao nhiêu lâu rồi không Hải ơi. Anh không thấy toàn thân em lạnh giá ư, hay là anh chê môi em thâm, da xanh, tóc rụng. Tại vì sống trong rừng núi Trường Sơn đấy anh ạ, với đàn bà, con gái, không hợp thuỷ thổ, dễ sinh bệnh tật, các chị ở đơn vị em nhiều người còn bị rụng hết cả tóc cơ, chị Thùy, chị Hường, chị Thơm hàng năm nay còn mất cả kinh nguyệt. Còn em, đêm đêm nhớ anh, thèm được âu yếm mà chẳng biết làm thế nào, những lúc ngủ, đành giở ảnh ra, mò mẫm hôn hít bằng đôi môi khô khát và ôm ba lô tưởng tượng..

Hoa vùng vẫy ra chiều hờn dỗi, cô oằn người đẩy ra, ứ thèm chơi với anh nữa, em cất công đi tìm anh đâu phải để nhận vào mình sự ơ thờ vậy. Hải ơi, ghì chặt em vào lòng đi anh, em muốn áp vào lồng ngực nghe trái tim anh rộn ràng. Nhớ lại đêm chia tay, em thấy sao chúng mình ngốc ngếch thế, anh thèm muốn khát khao, còn em thì khư khư gìn giữ. Bây giờ thì em đây rồi, em chẳng thèm gìn giữ nữa, em là của anh tất cả.. Hoa cảm thấy bức bối, cô muốn dứt tung những gì đang vương vất trên người, muốn được buông thả hết thảy, nhưng đôi bàn tay Hải vẫn nắm chặt bờ vai cô giữ lại, khoảng cách vừa đủ để da mặt cô cảm nhận hơi thở đàn ông khô, nồng nồng phả lên mặt, từng làn hơi như từng đợt sóng nhè nhẹ mơn man kích hứng, cô nhướn người, cong vồng mông lên, từ nơi sâu kín sự thèm muốn râm ran, lưng cô như có hàng trăm ngàn con kiến đang bò.

- Hoa, Hoa, tỉnh chưa?

Giọng ai mà lạ thế, chẳng lẽ sống lâu ở Trường Sơn mà giọng Hải trở nên khác thế sao. Hoa ngừng cựa, mọi thứ trong người tan biến, cảm giác thèm khát hiến dâng tan loãng, thứ bản năng mang tính dục nhường cho nỗi sợ hãi. Hoa cố nhướn lên chống trả hình người chập chờn, lúc đậm lúc nhạt, lúc xa vời, lúc như đang muốn đổ ập xuống người cô. Và, niềm thức cảm tâm trạng bỗng trở nên khác hẳn, cho dù cái bóng cao lớn kia vẫn trùm lên, nhưng giờ đây nó như một bóng ma, xám xịt, rợn rạo. Hoa thấy như mình sắp bị cưỡng bức, chiếm đoạt. Không, không.. Hoa oằn người né tránh, bỗng một cơn đau dội đến, xoắn quặn, lẫn trong từng đợt nhói tức là cảm giác ê buốt ở phần bụng dưới, vậy mà đôi cánh tay kia vẫn đè nghiến, khiến cô cảm thấy vầng ngực bị ép xẹp, bức bối, bất lực cô há mồm ra thở như cá mắc cạn.

- May quá, cô tỉnh rồi.

Lần này thì cái giọng lạ hoắc kia đánh thức cô dậy, ý niệm tự tại được khôi phục dẫu còn lơ mơ, cô mở mắt, nhưng mi mắt nặng trịch, căng cứng, mỗi lần hé ra, ánh sáng chói lóa, sạn gắt cảm giác như bị ném cát vào mắt, cô nhắm vội lại, rồi lại cố mở ra, dần dần, đầu tiên là mầu xanh quân phục, sau đó là khoảng trời phía sau, lồng lộng trên cao, mây đang trôi và nắng đang tỏa, lẫn trong mầu trời là những vòm cây xanh ngắt, mãi sau đó cô mới nhận ra, trước đó, có đôi mắt chóp chóp, hai lỗ mũi sâu, hàng ria mép xanh dợm, làn da tái xạm, nhám một lớp bụi, mái tóc rủ trên trán bê bết mồ hôi, bờ môi thâm xịt nhưng nụ cười rất hiền.

Cùng lúc đó, bờ vai cô được nới lỏng, ngực đỡ tức và dễ thở hơn nhưng phần bụng dưới cảm giác vẫn trống rỗng, cô tưởng như mình chỉ còn có phần đầu là sống.

- Đây là đâu? - Cô cất lời hỏi, hai hàm cứng nhắc, thanh âm phều phào khó nhọc.

- May quá, cô tỉnh rồi.

Lại là cái giọng lúc nãy, cô khó chịu, làm sao mà cứ đay đi đay lại chỉ có một câu nói.

- Anh Hải đâu rồi? - Cô ngúc ngắc đầu đưa mắt tìm.

- Tôi là Lai đây mà, cô chưa tỉnh à? - Đôi mắt kia lại ánh lên vẻ lo ngại.

Ra anh ta là Lai, cô nhớ ra rồi, tay chỉ huy trinh sát có cái mồm dẻo và ngọt như mía lùi. Mắt Hoa chớp chớp nhìn anh tỏ vẻ chưa hiểu.

- Cô đừng cựa, vết thương to quá, băng rồi nhưng động mạnh máu vẫn chảy.

Anh ta nói ai bị thương nhỉ? Hoa nhìn, Lai nhấc bi đông cho vào môi cô, mồm cô chép chép, những giọt nước lạnh thấm vào khoang miệng, đến lúc ấy cô mới cảm thấy họng mình khô, cô nhớp từng nhớp, nước chảy đến đâu biết đến đấy, cô háo hức uống như hoang mạc cằn khô lâu ngày được trời mưa. Nhưng chưa đỡ khát thì anh ta giật ra:

- Uống vậy thôi.

Hoa cố nhấc đầu, mồm vươn về phía chiếc bi đông, mặt nhăn nhó đòi uống nữa, thấy vậy Lai nói tiếp:

- Uống nhiều, máu chảy là chết.

Như vậy là mình bị thương, lạ nhỉ, mình bị thương lúc nào mà không biết nhỉ? Cô căng óc cố nhớ lại..

Vượt qua dốc "Anh Trỗi", tới đầu ngầm Khe Ba, lính giao liên gọi là Khe Ba vì nơi đây là ngã ba của ba dòng suối gặp nhau, vào mùa này nước cạn, cây cối xung quanh bị bom đánh tan hoang, một trảng rộng hiện ra trước mắt, ánh trăng suông lẫn trong hơi sương bàng bạc bay là là trên mặt đất, phía trước, cánh rừng già thẫm đậm in trên nền trời, ánh đèn dù thấp thoáng qua những vòm cây nhấp nhoáng, hành quân trong đêm đến khu vực này nếu không định hướng được đường rất dễ bị lạc. Và, chính đoạn này cách đây ít hôm chị Hường đã đụng phải một toán biệt kích. Hoa dừng lại bên đường.

Đợi Lai đi tới, cô nói nhỏ: Đề phòng có biệt kích, đồng chí truyền lệnh cho anh em tuyệt đối im lặng, giữ cự ly để tránh bị lạc. Lai quay lại truyền lệnh xong thì Hoa đã vọt lên phía trước.

Trong bóng đêm lờ mờ, tổ tiền trạm do Hoa dẫn đường súng AK lăm lăm trong tay. Tinh thần căng thẳng, họ nghe rõ tiếng thở của nhau, tiếng lép nhép của dép cao su giẫm trên đất ướt. Hoa siết chặt báng súng, mắt căng như muốn xuyên thấu màn đêm, điều gì sẽ xảy ra ở phía trước ai mà biết được, bọn thám báo như lũ ma vầy, thoắt ẩn thoắt hiện.

Đến bìa rừng Hoa ra hiệu cho tổ tiền trạm đi trước còn cô dừng lại. Thoát rồi, Hoa thở phào, như vậy trảng trống khe ngầm này đêm nay không có thám báo phục kích, nhưng còn một ngầm cạn nữa.

Lai từ dưới đi lên, hỏi: Cho anh em nghỉ giải lao được chưa đồng chí giao liên? Chưa được - Hoa đáp - Khu vực này nằm trong vùng máy bay oanh tạc, đồng chí động viên anh em vượt qua Khe Đôi xong thì nghỉ. Lai hỏi: Còn bao xa nữa thì đến Khe Đôi? Khắc đi khắc đến - Hoa đáp - Đường rừng ai tính bao nhiêu cây số mà hỏi. Nói rồi cô bỏ mặc Lai chạy lên với tổ tiền trạm. Cô bé này khó tính thật, hỏi thế mà trả lời vậy. Lai nhìn theo thầm nghĩ.

Đúng như Hoa suy tính, toán lính trinh sát vượt trảng trống vào rừng được một lúc thì máy bay địch đến ném bom ở Khe Ba, từ phía Khe Ba, từng tia chớp loé sáng kèm theo những tiếng nổ kéo dàn, những chiếc máy bay mở rộng vòng gào rú, khoảng mười lăm phút sau thì tiếng bom ngớt và bọn máy bay cũng rút đi. Lai xốc lại ba lô, anh bắt đầu cảm phục cô bé giao liên này. Khuôn mặt người yêu của cô trong ảnh hiện lên, thằng cha ấy tốt phúc thật, cô bé ở Trường Sơn mà trông vẫn tươi rói, xinh tệ.

Quê mẹ Lai ở thành phố Ninh Hải, lấy chồng Quảng Ninh, xứ sở của than và bụi, nhận thức đầu đời của anh là những khuôn mặt nhạm đen của thợ khai thác mỗi lúc tan tầm. Cha anh là thợ nổ mìn mở đường hầm trong mỏ, thân hình vạm vỡ, thô nháp, còn mẹ nhỏ nhắn. Nếu bà không bị bệnh hậu sản quật ngã, chắc con cái của hai người không dừng ở con số 3. Ba đứa con trông vào suất lương còm cõi của một lao động chính và một người đàn bà ốm o chuyên mót than rơi.

Cả nhà sống chui rúc trong một căn nhà chưa đầy hai chục mét vuông, cha mẹ anh hay cãi nhau vặt, vào bữa cơm chiều, cha xách cút rượu và chiếc chén hạt mít ngồi xuống mâm. Sau đôi ngụm, ông nhìn bọn trẻ ngồi quanh qua lăng kính của men say, gầm gào kể tội những kẻ ăn bám. Bọn trẻ con và người đàn bà mắc bệnh hậu sản lùa cơm vào mồm, nhai và nuốt cùng với những lời chửi rủa. Chửi quá mỏi mồm, mẹ thường an ủi những đứa con như vậy.

Cha anh chết trong một lần sập hầm, khi những người thợ mỏ đào thấy, xác đã rữa thối. Anh nghe những người công nhân mỏ kể lại, chứ thực ra, khi mẹ đưa anh đến, cha anh đã được quàn kín trong quan tài. Nỗi mất mát chìm vào nỗi khổ, mẹ anh không kịp khóc, vì bà còn phải tìm cách sống cho các con. Những đồng tiền trợ cấp bay vèo, nhu cầu cuộc sống đòi hỏi. Lai bỏ học tìm cách ăn cắp than, Lai ra lệnh cho những đứa em cầm bao chờ, nấp cạnh những cua đường dốc vòng. Khi ô tô ì ạch chở than đi qua, Lai nhẩy lên bám đít ben, tay kia gạt than rơi xuống, hai em gái làm nhiệm vụ thu hồi "chiến lợi phẩm"..

Lai đang nghĩ, bỗng có tiếng Hoa hô từ phía trên vọng xuống: Các đồng chí nhanh chóng tìm nơi ẩn nấp. Theo phản xạ, Lai lao về phía bìa rừng, vừa kịp nằm xuống sau một mô đất thì đã nghe bom nổ. Thôi chết, máy bay B52 rồi, loại này bay cao, ném bom theo tọa độ. Quả vậy, tiếng nổ đều như xếp lớp, to dần, cả mặt đất rung chuyển, cây cối đổ vập, đất đá văng lộp bộp. Khói bom khét lẹt. Lai nằm sấp, co gối lên, hai tay đỡ ngực, kéo khăn ấp vào mũi cho đỡ ngạt thì một tiếng nổ cực lớn vang lên. Trong khoảnh khắc Lai thấy ai đó nhấc bổng mình lên rồi ném xuống đất. Một cảm giác đau, choáng ùa tới rồi không biết gì nữa.

Lai tỉnh dậy, ngúc ngắc đầu, tai điếc đặc, toàn thân đau nhừ, ngực tức như bị đấm. Một cành cây lớn đè ngang, may sao người anh lọt vào một chỗ trũng. Lai cất tiếng gọi: Các đồng chí ơi. Không lời đáp. Lai lấy tay sờ soạng khắp người, không bị thương. May rồi. Lai hít thở sâu mấy lần, vặn người cho quen, tụt ba lô, lựa, chuồi người thoát ra.

Cả khu rừng tan hoang, những hố bom sâu hoắm, đất đai bị bom đào đắp lên thành từng ụ, sương đêm cuộn trong khói bom mờ đặc, khoảng cách nhìn không đầy mười mét. Chợt anh sững lại, toàn thân ớn nhột. Vật đầu tiên anh thấy là nửa thân người không đầu vắt trên thân cây, những vệt máu tím đen. Lai rùng mình người gai cấn như bị lên cơn sốt. Anh gào lên: Các đồng chí ơi, còn ai không? Nhưng chỉ có tiếng âm âm vọng lại. Không nhẽ chết hết rồi sao? Anh đâm hoảng, giây phút hoang mang, cô độc giữa cánh từng cũng với quang cảnh tan hoang của bom đạn và sự chết chóc của đồng đội làm anh mất bình tĩnh. Lai rút súng bắn lên trời ba phát làm hiệu, đáp lại anh chỉ có tiếng vọng và gió rừng à à thổi..
 
283 ❤︎ Bài viết: 1434 Tìm chủ đề

Chương 29​


20261031-091852-b2e62b5b2a.png


29

Thành đang họp cơ quan thì Hải gọi điện tới. Vừa mở máy chưa kịp a lô đã nghe tiếng Hải: Ông Thành đấy phải không? Thành đáp: Vâng, tôi xin nghe. Giọng Hải gấp gáp: Ông xuống ngay trại nấm Linh Chi xem tình hình thế nào giúp tôi. Thành hỏi: Có việc gì đấy anh? Hải nói: Cháu Doan điện cho tôi, nói: Chính quyền địa phương cho máy gạt đến trại nấm Linh Chi giải phóng mặt bằng, hai bên xô xát nghe chừng phức tạp lắm. Ông xuống xem tình hình thế nào giải quyết ngay hộ tôi. Nếu để phóng viên báo chí kéo đến làm ầm ĩ lên là hỏng việc đấy. Anh yên tâm, tôi sẽ đi ngay - Thành đáp, tắt máy rồi quay sang nói với Phó giám đốc sở - Tôi có việc gấp, đồng chí điều hành thay tôi.

Lúc xe đưa Thành đến trại, anh không tin vào mắt mình nữa. Cảnh tượng tan hoang, một chiếc máy ủi vàng choé nghễu nghện đỗ trên bờ ao, vết bánh xích hằn sâu dưới nền đất, những đụn đất vồng cao. Trong trại, ngoài hai dãy nhà đứng chơ vơ, cổng ra vào và hàng rào bị dũi đổ sập, cây cối trồng ven đường bị đốn nằm ngổn ngang. Đám người kéo đến xem đông nghịt. Thấy xe công an đến, bọn họ tản ra. Thành đi thẳng vào nơi bọn trẻ trong trại đang đứng dưới hiên. Nhìn thấy Thành, cả bọn chạy ùa ra quây lấy anh. Đứa nào quần áo cũng xộc xa xộc xệch, mặt mũi, tay chân lấm be, lấm bét như vừa vày đất. Thắng mù víu lấy anh gào lên:

- Bác Thành ơi, bác Thành, cứu chúng cháu với.

Thành hỏi:

- Doan, mẹ các cháu đâu?

Doan mếu máo:

- Bọn họ bắt anh Bình và bác Thùy lên xã, mẹ cháu theo lên đấy rồi.

Thành nói:

- Nín đi cháu, tình hình thế nào kể cho bác nghe.

Doan lau nước mắt, kể:

- Sáng nay chúng cháu dậy, vừa tập thể dục xong, bỗng nghe có tiếng xe ủi đỗ trước cổng. Có ba người vào gặp mẹ cháu, trong đó có ông Chủ tịch xã. Đôi co một lúc với mẹ cháu, ông Chủ tịch xã đi ra sân, mặt hầm hầm, nói:

- Chúng tôi đã gửi thông báo cho chị nhiều lần rồi. Hôm nay buộc lòng chúng tôi phải sử dụng đến biện pháp mạnh - Nói xong, ông ta khoát tay hô - Các đồng chí cứ tiến hành như kế hoạch, tội vạ đâu tôi chịu.

Mẹ cháu thấy vậy chạy ra dang tay ngăn máy ủi lại. Ông Chủ tịch xã hô dân quân xông vào giữ mẹ cháu, mẹ cháu lăn ra đất, vừa lăn mẹ cháu vừa gào:

- Đồ ăn cướp, tao có chết chúng mày mới cướp được mảnh đất này..

Người ta hè nhau khiêng mẹ cháu ra, mẹ cháu không chịu, giằng co, lăn lộn. Bọn cháu thương mẹ quá, đứa nào đứa nấy vừa khóc vừa lăn xả vào giành nhau với họ. Bác Thùy đang niệm Phật mà chạy ra, lao vào ôm lấy mẹ giữ lại. Anh Bình nhảy vào giằng co với mấy người dân quân. Ông Chủ tịch xã đứng ngoài, hét:

- Kẻ nào dám chống người thi hành công vụ. Trói lại đưa về xã cho tôi.

Vậy là mấy người dân quân đè nghiến anh Bình xuống, lấy dây trói giật cánh khuỷu khiêng đi. Bác Thùy xông vào ôm anh Bình lôi lại cũng bị bọn họ bắt mang đi. Chúng cháu vừa kêu cứu vừa lao vào giằng lại nhưng bị bọn họ gạt ra. Không biết làm thế nào, cháu chạy vào gọi điện cho bác Hải.

Thành giơ tay ra hiệu trấn an bọn trẻ, nói:

- Các cháu cứ yên tâm, bác sẽ đưa mẹ về cho các cháu.

Lúc lên xe, anh điện về sở, yêu cầu cử người xuống trại nấm Linh Chi giúp các cháu và dặn: Các đồng chí khéo léo giải tán đám người tụ tập ở đấy, tránh kẻ xấu lợi dụng tung tin.

Xe chạy đến ủy ban xã. Cổng đóng, bên ngoài dân chúng kéo tới xem rất đông. Thành xuống xe đi tới, yêu cầu mở cổng. Nhìn anh mặc thường phục người gác cửa hất hàm hỏi:

- Anh là ai?

- Tôi đến gặp Chủ tịch xã - Thành nói.

Người gác cổng xua tay:

- Chủ tịch xã bận việc, về đi, hôm khác đến.

Thành rút thẻ ngành ra chìa cho anh ta xem. Người gác cổng vẫn phớt lờ như không biết:

- Chủ tịch đang bận, lệnh cho tôi không tiếp khách.

- Mở cổng ra! - Gáy Thành nóng ran. Theo thói quen anh đưa tay lên hông, giọng gằn từng tiếng - Tôi là Giám đốc Sở công an thành phố Ninh Hải. Anh có mở không?

- Dạ.. Dạ.. - Người gác cổng sợ sệt, giọng lắp bắp - Để tôi mở.

Cổng mở, Thành đi vào văn phòng, lúc bước lên bậc tam cấp anh nghe tiếng Thương nói vọng ra:

- Anh Lai và tôi chưa đăng ký kết hôn, nhưng tình nghĩa của chúng tôi còn cao hơn cả tình cảm vợ chồng. Các người không có quyền nói tới anh ấy.

Có tiếng cười khục khục đáp lại kèm theo đó là câu trả lời đầy vẻ mỉa mai:

- Chị nói nghe hay nhỉ. Không có pháp luật công nhận lại lấy tình nghĩa ra nói lý với chúng tôi. Ai biết đâu "ma ăn cỗ"? Mà giờ anh ta chết rồi, chị lấy ai ra làm chứng cho cái tình nghĩa ấy?

Chừng như câu nói xúc phạm khiến Thương không chịu được, chị gào lên:

- Bọn các người là đồ táng tận lương tâm, quân cướp ngày!

Thành bước vào, khỏa mắt nhìn những người xung quanh một lượt, ánh mắt anh dừng lại trên khuôn mặt người đàn ông, trạc tuổi bốn mươi, mặc áo sơ mi trắng cộc tay, khuôn mặt bầu, tóc rẽ ngôi giữa bóng nhãy, cả thân người y lọt thỏm trong chiếc ghế quay bọc đệm, hai tay khoát ra sau như muốn tạo dáng bệ vệ. Thành đoán chắc đó là Chủ tịch xã. Thẩm định xong khuôn mặt, Thành bước tới gần. Người đàn ông đang định nói một câu gì đó với Thương thì nhìn thấy anh, chừng nhận ra Giám đốc Sở công an, anh ta đứng bật dậy, da mặt chuyển màu tái mét, hệt như gà hết tiết, giọng níu lại:

- Báo.. Báo.. Báo cáo anh..

Thành khoát tay:

- Anh cứ ngồi yên ở đấy!

Thương ngoảnh lại, mừng rỡ đứng dậy kêu lên:

- Anh Thành..

- Chị có sao không? - Thành hỏi.

- Tôi không sao. Ai báo mà anh biết? - Thương hỏi.

- Anh Hải - Rồi hỏi - Còn cháu Bình và chị Thùy đâu?

Thương không đáp, nhìn Chủ tịch xã. Một vài người ngồi trong phòng đứng dậy len lén đi ra, Thành khoát tay ra hiệu:

- Mời các vị ngồi đâu cứ ngồi đó.

Đám người ngồi xuống nhìn nhau lo lắng. Thành bước tới, ánh mắt như đổ lửa vào mặt Chủ tịch xã, nhưng giọng nói rất thản nhiên:

- Tôi hỏi, những người anh bắt về hiện nay đang giam ở đâu?

- Dạ.. Dạ.. Dạ.. - Chủ tịch xã đứng dậy lắp bắp - Để em bảo anh em thả ra ạ.

- Anh cứ ngồi xuống - Thành chỉ tay vào ghế khi thấy ông ta định bước ra.

Chủ tịch xã ngồi xuống ghế, cúi mặt tránh cái nhìn của Thành. Một người mang ghế lại mời anh ngồi. Thành ngồi xuống nhìn dáng vẻ bạc nhược của ông ta mà thấy buồn. Sao lại có những thứ rác rưởi này làm công việc "chăn" dân. Với dân lành chuyên giở thói cửa quyền, hống hách, ra oai nạt nộ; thấy cấp trên thì như chó sợ cọp, run rẩy, đớn hèn.

Thành nghiêm giọng:

- Tôi yêu cầu anh trả lời đúng câu hỏi. Những người anh bắt bây giờ ở đâu?

Giọng Chủ tịch xã lí nhí:

- Dạ, ở.. Ở trong kho ạ.

- Ai ký lệnh bắt? - Thành hỏi.

Chủ tịch xã cụp mặt xuống:

- Thưa anh, không có ai ra lệnh, nhưng vì họ chống lại chủ trương giải phóng mặt bằng nên chúng em mới phải làm thế ạ.

Thành hỏi:

- Anh có biết những người sống trong trại là những ai không?

- Thưa anh - Chủ tịch xã lén nhìn chị Thương rồi đáp - Em biết, nhưng tất cả đều không có giấy tờ hợp lệ, sống ngoài vòng pháp luật.

Thành hỏi:

- Vì vậy mà anh cho máy ủi đến phá phách nhà cửa và bắt người?

Chủ tịch xã đáp:

- Dạ, xã đã gửi thông báo cho trại nhiều lần rồi ạ.

Thành quay sang hỏi Thương:

- Ý kiến của chị Thương thế nào?

- Thưa anh - Thương nói - Đúng là trại có nhận được giấy báo của xã, nhưng chúng tôi cũng đã gửi đơn cho xã trình bày hoàn cảnh của trại rồi. Trong đơn chúng tôi có yêu cầu: Nếu nhà nước lấy đất để xây dựng công trình công cộng thì cũng phải giải quyết cho chúng tôi nơi ở. Nhưng theo tôi được biết, xã lấy đất bán cho tư nhân và chưa được sự thỏa thuận của chúng tôi, mặc nhiên đưa máy đến san ủi. Thử hỏi việc làm của chính quyền địa phương như vậy có đúng không?

- Ý kiến của anh thế nào? - Thành hỏi.

- Báo cáo anh, đúng là chúng tôi có nhượng lại cho doanh nghiệp tư nhân thật. Nhưng mọi công văn, giấy tờ, quyết định của họ từ trên rót xuống đều hợp pháp cả. Còn phía chị ta chẳng có bằng chứng pháp lý nào công nhận mảnh đất ấy thuộc quyền sở hữu của ai cả..

Chị Thương chồm lên cán ngang lời ông ta:

- Ai bảo chúng tôi không có giấy tờ? Anh giở lại hồ sơ tôi gửi cho xã xem.

Chủ tịch xã liếc một cái rõ nhanh về phía Thành rồi nói:

- Nhưng đấy chỉ là một tờ giấy giao kèo giữa ông chủ nhiệm Hợp tác xã với anh Lai thôi. Trong giấy ngoài chữ ký của hai người không có dấu má gì. Mà bây giờ cả hai đều đã chết rồi, hợp tác xã đã giải tán từ lâu, lại chẳng có ai làm chứng đó là sự thực. Còn quan hệ giữa chị và anh Lai không có đăng ký kết hôn. Vì vậy chúng tôi lấy đâu ra bằng chứng mà giải quyết?

Thành ngồi nghe, anh biết đây là vấn đề nhạy cảm, đất đai không thuộc phạm vi trách nhiệm của ngành công an giải quyết. Nếu không khéo sẽ bị sa đà vào những cuộc tranh luận không cần thiết, và, dưới con mắt quần chúng nhân dân, anh trở thành kẻ độc đoán chuyên quyền, lợi dụng vào vị thế can thiệp công việc của chính quyền địa phương.

Giọng Thành ôn tồn nhưng dứt khoát:

- Việc đất đai, nhà cửa sẽ có nơi giải quyết. Trước mắt tôi yêu cầu anh thả ngay cháu Bình và bác Thùy ra. Và tôi nói để anh biết; việc làm của các anh hôm nay hoàn toàn vi phạm pháp luật. Việc đó ủy ban thành phố sẽ xử lý. Còn từ bây giờ đến lúc có ý kiến của ủy ban, tôi cấm các anh không được gây rối trật tự, trị an trong khu vực, làm ảnh hưởng đến đời sống của nhân dân, tạo tin xấu cho dư luận. Tôi nói vậy chắc anh hiểu?

Chủ tịch xã vâng vâng, dạ dạ rồi lon ton đi trước dẫn đường. Nơi nhốt hai người là căn nhà kho lợp giấy dầu nằm phía đằng sau nhà. Thương giằng chiếc chìa khóa trong tay Chủ tịch xã, vừa mở vừa gọi:

- Chị Thùy ơi, Bình ơi, mọi người đâu rồi?

Nghe tiếng Thương, bên trong tiếng chị Thùy đáp lại:

- Thương đó hả em?

Cửa mở, chị Thùy và Bình từ trong nhà kho đi ra, cả ba người ôm lấy nhau mừng mừng tủi tủi dìu nhau ra khỏi phòng. Nhìn những vệt trói lằn trên tay chị Thùy và Bình, Thành nói:

- Tôi xin lỗi vì đã để chị và cháu Bình phải vất vả.

Chị Thùy nước mắt lưng tròng:

- Tại người ta chứ tại anh mô mà anh xin lỗi. Có điều khổ mần răng tui cũng chịu được. Mất nhà tui còn có chùa để tựa. Nhưng còn o Thương và các cháu, nếu đất đai, nhà cửa nỏ có, tụi hắn biết ở mô? Tui mong các anh nhanh chóng giải quyết. Mần chi thì mần, đừng để các cháu trong trại chịu thiệt thòi.

Thành nói:

- Chị yên tâm, việc này tôi sẽ báo cáo lại cho anh Hải biết.

Đúng lúc mọi người ra đến sân thì xe ô tô đưa Hải tới. Ông Chủ tịch xã nhìn thấy Chủ tịch thành phố từ trên xe bước xuống, mặt tái mét, chạy đến hai tay vò vào nhau, giọng xun xoe:

- Kính anh..

Hải xua tay, độp thẳng:

- Kính cái con khỉ! Anh triệu tập tất cả cán bộ ủy ban chờ tôi trong hội trường. Không được vắng mặt một người nào, anh rõ chưa?

Chủ tịch xã cụp mặt xuống, vâng vâng, dạ dạ lủi thủi bước đi. Hải đi tới chỗ ba người nói:

- Xin lỗi mọi người, tôi bận họp nên đến muộn.

Chị Thùy nói mát:

- May mà có anh Thành đến kịp chứ không người của anh đã ăn tươi, nuốt sống bác cháu tui rồi.

Hải hỏi Bình:

- Cháu có sao không?

Bình nhoẻn cười:

- Không sao đâu chú, sơ sơ thôi mà.

Hải nhìn Thương, nói:

- Để sự việc xảy ra như thế này là chúng tôi sai rồi. Chúng tôi xin nhận khuyết điểm và hứa ngay chiều nay sẽ cho người đến dọn dẹp, tu sửa và đền bù lại những gì đã bị thiệt hại. Quay sang Thành, anh nói - Nhờ ông đưa mọi người về rồi quay lại đây với tôi.

- Tôi quay lại đây làm gì? - Thành hỏi.

Hải nói:

- Tôi xin ý kiến của đồng chí Bí thư Thành ủy rồi, chiều nay sẽ có một cuộc họp bất thường ngay ở đây do ủy ban thành phố Ninh Hải chủ trì với các ban, ngành có liên quan đến sự việc xảy ra ở trại nấm Linh Chi. Không thể để tình trạng như thế này xảy ra lần nào nữa.
 
283 ❤︎ Bài viết: 1434 Tìm chủ đề

Chương 30​


20261031-091934-06f0fe9c61.png


30

Lai mở bi đông uống một chút nước, giở thuốc ra hút. Nước lạnh và khói thuốc khiến anh tỉnh táo và tai đã nghe được tiếng động xung quanh. Có tiếng "chim báo tử" xáo xác lẫn tiếng ầm ì của máy bay. Thoảng trong không gian, lợm tanh mùi máu. Điều đầu tiên phải chôn những người đã hy sinh đã. Nghĩ vậy, Lai mở ba lô lấy chiếc tăng buộc túm một đầu như chiếc túi, len lỏi tìm những mảnh xác gom lại. Không thân thể nào còn nguyên vẹn. Cái còn đầu thì mất xác, cái còn chân thì mất tay, nhiều mảnh thịt, xương vụn rơi vãi lung tung. Mặc dù quen chinh chiến, nhưng trước cảnh thương tâm Lai không nén nổi, anh vừa mò mẫm tìm nhặt xác đồng đội vừa khóc tu tu. Không biết còn người nào chạy thoát không?

Lai mở rộng phạm vi tìm kiếm, phát hiện ra Hoa nằm dưới lòng khe cạn. Hoa nằm ngửa, người đè lên ba lô, mắt nhắm nghiền, máu bết lại thành bãi, đám ruồi muỗi bu lại đen kịt. Lai cúi xuống áp tai vào mũi Hoa. Chút hơi thở thoi thóp ấm vành tai, Lai mừng rỡ: Còn sống, còn sống Hoa ơi, cố lên nhé! Lai lật áo xem vết thương. Trời ơi, khoảng bụng nát nhàu, bê bết máu, Lai mở ba lô lấy hộp cứu thương cá nhân ra.

Vết thương to, mấy miếng gạc nhỏ không sao che kín, Lai xé vạt áo đậy lên quấn băng lại. Hết mấy cuộn băng vẫn không kín được vết thương. Lai bế Hoa lên bờ, đặt cô nằm ngay ngắn. Băng không kín, máu từ bụng Hoa trào ra. Không cầm được máu nguy mất. Lai loay hoay không biết làm thế nào. Trong lúc đó, da mặt Hoa tái dần, môi tim lịm. Bất lực Lai ngồi bó gối nhìn Hoa lo lắng.

Chợt có tiếng động, Lai giật mình quay lại. Trước mắt anh là hai người dân tộc Bru. Anh nhận ra vì trang phục của họ. Người đàn ông búi tó, ở trần, đóng khố, da đen bóng nhẫy như đồng hun, vai khoác túi dao; người đàn bà tóc búi trên đỉnh đầu, mặc váy trùm gối, da đen không kém gì chồng, vú vê thỗn thện, vai đeo gùi nặng trĩu.

Người đàn ông Bru không nói không rằng đi thẳng tới chỗ Hoa, ngồi xuống lấy dao cắt băng, vạch ra chăm chú nhìn vết thương, lấy tay vén mi mắt cô lên xem. Một lát, ông ta quay lại nói với người vợ điều gì không rõ. Người đàn bà đặt gùi xuống đi như chạy về phía cánh rừng.

Lai chỉ tay vào bụng Hoa nhìn người đàn ông Bru ra ý hỏi. Ông vỗ vai anh ra hiệu yên tâm, nói: Bộ đội chờ vợ mình mang cây thiêng ra chữa cho nó. Lai thở phào, ông ta biết nói tiếng Kinh.

Thái độ bình thản của người đàn ông Bru làm cho Lai bớt lo. Ông ta ra gùi lấy ống nứa, ngắt chiếc lá lấy nước trong ống ra nhấp lên môi Hoa mấy lần rồi đưa cho Lai: Bộ đội uống, cái nước này tốt mà. Lai nhấp thử, vị ngăm ngăm, thơm thoảng mùi hương lạ.

Lai rút thuốc lá mời, người đàn ông Bru bẻ vụn điếu thuốc nhét vào tẩu châm lửa. Lai hỏi: Người Bru tên gì? Người đàn ông đáp: Mình tên Briên, còn bộ đội tên gì? Lai đáp: Mình là Lai. Briên chỉ vào Hoa: Bộ đội gái tên gì? Lai đáp: Tên là Hoa. Briên gật đầu: Bộ đội Hoa gặp Briên là tốt rồi. Câu nói đầy vẻ tự tin. Nếu là người Kinh nói e Lai cho là bốc phét, nhưng đây là người dân tộc Bru, một dân tộc còn rất ít người, có phong tục, tập quán và truyền thống văn hóa lâu đời. Rất trọng tín nghĩa. Điều này Lai biết khi được huấn luyện ở trường trinh sát. Lai hỏi: Briên có chữa được không? Briên cười: Mình có cây thiêng mà, bộ đội Lai bằng lòng đi. Lai khẽ mỉm cười vì Briên dùng từ "bằng lòng" thay cho từ "an lòng".

Một lúc sau người đàn bà Bru xuất hiện, vai đeo túi vải. Mặt bà túa mồ hôi, tà váy ướt đẫm sương rừng. Briên đón túi lấy ra một cây nấm khô hình chiếc ô, mầu vàng nhạt. Ông rút dao nạo, cây nấm chai như sừng, tiếng dao nạo kêu ken két như tiếng nghiến răng. Lai thoảng ngửi thấy mùi thơm ngát giống như thứ nước anh uống trong ống nứa. Trong lúc đó, người đàn bà lấy đồ từ trong túi ra đặt cạnh. Cạo được một nhúm to, Briên lấy một ít hòa với nước ra hiệu cho vợ cạy mồm Hoa đổ vào. Phần còn lại ông hòa sền sệt rắc lên vết thương. Một lát sau ông dùng dao gợt, lớp máu đọng và những vết bẩn bong thành mảng. Briên lấy tay ấn bụng Hoa, miệng vết thương há hoác, máu và nước vàng chảy thành dòng, ông thọc ngón tay vào thăm dò, từ trong bụng Hoa những khúc ruột phòi ra trắng hếu.

- Không có gì vớ - Briên nói - Cái ma thằng Mỹ không bắt được nó rồi. Ông nhét mớ ruột của Hoa vào đậy lại, rắc nước bột thấm khô, nạo đi nạo lại mấy lần. Cuối cũng ông rắc một lớp bột phủ lên, ra hiệu cho Lai nhấc mông Hoa lên, luồn vải cuốn chặt bụng Hoa lại. Trong lúc đó, cứ lúc lúc, người đàn bà Bru lại dùng lá nhấp vào môi Hoa vài giọt nước cây thiêng.

Hoa vẫn nằm im, không biểu hiện một chút sự sống. Nhìn thái độ lo lắng của Lai, Briên vỗ vai anh: Bộ đội Lai bằng lòng đi, được cây thiêng của tao nó được sống mà. Lai đưa thuốc mời, Briên lắc đầu: Thuốc của bộ đội không ngon mà. Nói rồi ông mở gói thuốc của mình nhồi vào nõ tẩu, châm lửa, ngửa cổ thổi khói lên trời, nói: Briên "ăn" xong điếu thuốc này nó sống thôi mà. Lai nghi ngờ, cho rằng Briên động viên anh. Nhưng quả thật, một lúc sau cơ mắt Hoa động đậy, môi mấp máy. Lai mừng rỡ quỳ xuống bên cô: Hoa ơi, anh đây, Lai đây mà, em có nhận ra anh không? Mắt Hoa hé mở nhưng rồi lại nhắm lại, miệng chép chép. Briên nói: Nó chưa dậy được đâu. Đợi mặt trời xuống núi thì cho bộ đội Hoa về nhà mình. Bây giờ bộ đội Lai và Briên đi chôn bộ đội chết cho cọp không ăn mất cái thịt của nó.

Nghe Briên nói Lai mới nhớ còn việc phải làm. Anh cầm xẻng cùng Briên đi vòng một lượt xem còn gì nữa không, rồi đào đất chôn tất cả chung vào một hố. Trước khi đi, anh bắn một loạt đạn: Vĩnh biệt các đồng chí - Lai hô. Briên ngửa mặt, giang hai tay lên trời: Hú.. Hú.. Hú.. Tiếng hú đập vào rừng vọng lại kéo dài không muốn dứt..
 
283 ❤︎ Bài viết: 1434 Tìm chủ đề

Chương 31​


20261031-092538-17bc269761.png


31

Sau sự việc xảy ra ở trại nấm Linh Chi, đúng như lời Hải hứa, chính quyền xã cho người xuống làm đền những thứ đã bị phá và bồi thường những thiệt hại do máy ủi làm hỏng. Ngoài ra, Sở Công an thành phố Ninh Hải cho người xuống điều tra, xác định, hợp pháp hóa nhập hộ khẩu cho lũ trẻ trong trại. Về phần ủy ban thành phố, Hải yêu cầu Sở giáo dục tạo điều kiện cho các cháu được đến trường không phải đóng học phí. Những người sống trong trại coi đó là những ngày hạnh phúc nhất kể từ khi thành lập.

Chị Thùy nói với Bình: Mô Phật, vậy là xong một chuyện, bây giờ đến chuyện trồng nấm, tất cả trại trông chờ vào cháu đó! Bình xăng xái: Bác yên tâm, cháu hứa rồi mà. Và, Bình đúng là "người đặc biệt" theo cách gọi của bọn trẻ trong trại nấm Linh Chi. Sau khi trại ổn dịnh, Bình lập tức bắt tay vào việc. Ngắm nghía "phòng thí nghiệm", Bình vắt tay sau lưng đi đi lại lại, nghiêng nghiêng ngó ngó, ngắm nghía, soi mói, vạch vòi, đến chỗ này, gật, chỗ kia, lắc, cái búi tóc thây lẩy như thầy địa lý xem phong thuỷ. Rồi đột ngột đề đạt: Đổi cửa đi thành cửa sổ, phá tường mở cửa khác, lát lại nền, bỏ giấy dầu lợp mái rạ, nạo tường quét vôi lại. Yêu cầu giải thích, nó nói: Bào tử nấm ưa độ ẩm thích hợp, nhiệt độ không được quá 25 độ c. Ở đây tuy không có điều kiện, nhưng phải tạo làm sao cho tương đối.

Mùn cưa được chở về, Bình sục tay bốc lên ngửi, lắc đầu: Đây là loại mùn có dầu, nóng, khô, không giữ được độ ẩm. Vậy số mùn cưa này bỏ đi à? - Thương tần ngần nhìn đống mùn cưa chất như núi. Bình bàn: Để đấy cháu trồng nấm mỡ và mộc nhĩ trắng. Còn nấm Linh Chi tốt nhất là mùn cưa gỗ cao su nếu không tối thiểu là mùn cưa gỗ bồ đề.

Vùng biển lấy đâu ra thứ cây ấy. Thế là Thương phải điện vào miền Nam, nhờ người lên mạn ngược mua gỗ, thuê máy nhai thành mùn. Kiểm tra nguồn nước, Bình thè lưỡi liếm, lắc đầu: Thảo nào cô thất bại là phải, nước này không thích hợp. Rồi để chứng minh "người đặc biệt" rút trong túi ra tập giấy đo độ PH, nhúng vào chìa cho Thương xem. Tờ giấy chuyển mầu xanh lét, báo độ kiềm quá cao. Thế là Thương phải chi tiền mua bình lọc, mua ống dẫn, cải tạo nguồn nước. Tốn thêm một khoản, nhưng Thương nhận ra được một điều, giữa lý thuyết và thực tiễn khác xa nhau vì môi trường ở mỗi nơi mỗi khác. Nào thế đã xong đâu, nhìn cái phích đá ủ giống, nó phán: Phải có tủ bảo quản. Vậy là Thương phải chi hơn năm triệu đồng ra mua tủ. Nhìn chiếc tủ bảo quản kê trong phòng; "người đặc biệt" gật gù ưng ý. Rồi nó kê một loạt các đồ dùng trong phòng thí nghiệm đưa cho Thương. Nhìn đống chai, lọ và đồ dùng cũ gom thành đống, xót tiền, tiếc của, Thương hỏi: Những thứ này không dùng được nữa hả cháu? "Người đặc biệt" giọng quan trọng: Dùng được, nhưng không bảo đảm. Những đồ thí nghiệm của bác Hoàng cháu không bao giờ dùng quá một năm, đằng này, thủy tinh bị mốc, đồ sắt, đồ nhôm rỉ nhoen rỉ nhoét. Cứ để làm nhỡ thất bại, ai chịu trách nhiệm? Lời giải thích rất chi là có lý và câu hỏi như thách đố khiến Thương đành nín lặng đồng ý.

Sửa sang trang trại, chuẩn bị nguyên, vật liệu xong thì cũng đúng vào vụ trồng nấm. Dưới trướng của "Người đặc biệt" có Ngọ ngọng, Sơn ngoẹo, Hà gấm và Nam đao. "Người đặc biệt" bắt tay vào làm, vừa làm vừa hướng dẫn bọn chúng cân mùn cưa, tính tỷ lệ vôi bột, trộn đều với nước sạch, đánh thành từng đống rồi đậy bằng vải ni lông. Không được làm ẩu - Bình nói với cả bọn - Nếu các em không cẩn thận sẽ làm tốn tiền của mẹ Thương.

Bọn trẻ cũng ý thức được điều đó. Qua mấy mùa thất bại, chúng thương mẹ Thương lắm. Và từ tình cảm ấy, không hiểu tự bao giờ, bọn trẻ có chung niềm khát khao mong cho việc trồng nấm thành công. Nếu thành công, cuộc sống của chúng sẽ đỡ hơn và chắc mẹ Thương của chúng sẽ rất vui.

Mùn cưa được ủ một tuần lễ, Bình cho cân, đóng mùn vào bao ni lông chịu nhiệt rồi chuyển đến lò nấu cách thuỷ. Nam đao và Sơn ngoẹo được phân công đảm nhiệm việc này. Vừa xếp bao Nam đao hỏi: Sao không đóng tròn thành cân rưỡi mà cứ phải là cân mốt với cân tư? Bình không đủ lý luận để giải thích, nó nói: Bác Hoàng anh dạy thế! Vậy đấy, cứ khi nào không giải thích được, "Người đặc biệt" đều lấy câu "Bác Hoàng anh dạy thế" để trả lời.

Tuy đã phân công rõ ràng, nhưng khi đun cách thuỷ những túi mùn. "Người đặc biệt" thi thoảng lại đảo qua xem xét, nhắc nhở, giọng quan trọng: Không được để lò tắt. Lửa phải đều, các em phải luôn luôn để mắt tới nhiệt kế. Lúc nào nước cũng phải sôi đủ trăm độ và đun liên tục đúng 12 giờ. Không sớm, không muộn. Vừa nói Bình vừa bốc hơi đưa lên mũi ngửi. Nam đao nháy mắt với Sơn ngoẹo: Đúng là "người đặc biệt" có khác. Tuy vậy bọn chúng rất phục Bình, nói và làm như nhau, chịu khó, cần mẫn và rõ ràng như một nhà khoa học.

Khi bắt tay vào việc cấy giống, trông Bình thật ra dáng; búi tóc, đội mũ trắng, mặc quần áo pơ lu, một tay cầm ống thạch, tay kia cầm que thủy tinh, soi soi, ngắm ngắm, gẩy gẩy, gạt gạt, y như nhân viên trong phòng thí nghiệm chính hiệu. Nó lệnh tuyệt đối không được đứa nào bước chân vào phòng thí nghiệm khi chưa được lệnh nó và khi vào, người ngợm phải được "vô trùng tuyệt đối". "Vô trùng tuyệt đối" ở đây nghĩa là dùng xà phòng tắm rửa sạch sẽ, móng chân móng tay cắt trụi, mặc quần áo trắng, đi dép riêng. Cái phòng thí nghiệm chưa đầy hai chục mét vuông trở thành nơi quan trọng của cả trại.

Thái độ tự tin của Bình làm cho Thương an tâm. Nhờ có tiền, công việc và mọi sinh hoạt của trại nấm Linh chi dần dần vào nếp. Thùy ngày ngày cần mẫn đi khất thực. Hôm được nhiều, hôm được ít, lương thực, thực phẩm đưa cho Doan, còn tiền chị đưa cho Thương, nói: Đây là lộc Phật chị xin để dành dụm sau này cho những đứa trẻ không nơi nương tựa. Thấy chị vất vả, ngày ngày, đội mưa, đội nắng tần tảo, ngửa tay xin từng đồng, từng hào, Thương khuyên chị ở nhà quán xuyến việc trại. Em có thiếu gì việc cho chị làm đâu - Thương nói. Thùy nhẹ nhàng nhưng kiên quyết: Căn cơ kiếp nghiệp của chị thế rồi, đã tu tu cho trọn đạo, dở dang không khéo để nợ đến kiếp sau.. Hình như chị Thùy tin vào điều đó lắm. Thương không dám gàn, chỉ ngạc nhiên và thầm so sánh giữa chị Thùy của thời Trường Sơn với ni cô Thùy hôm nay thôi. Con người vì hoàn cảnh dễ bị thay đổi. Phải chăng nghiệp chướng đời có thật? Thương lẩn mẩn nghĩ như vậy và đồ rằng nếu duyên tình con người có số phận thì việc Hải phải xa Thương cũng là lẽ đương nhiên.

Thương tha thẩn ngắm nhìn không chán mắt. Quả thể Linh Chi trồi lên từ những túi mùn đen thủm trông như hàng trăm ngàn chiếc ô xoè ra rực rỡ trong ánh sáng đèn. Sự thay đổi diệu kỳ. Thương ngỡ mình đang mơ, lạc vào vùng núi nguyên sơ. Dưới tán trắng, những thân trụ còn nhỏ dại nhưng bề ngoài đã phủ mầu vàng tơ óng ả, lớp phấn mịn màng bao quanh. Ngay cạnh đấy, Bình cầm bình tưới, những hạt nước li ti phun từ miệng hoa sen rơi xuống, vo tròn đọng lại trên tán nấm long lanh, lấp lánh như ngọc. Thương đưa tay ve vuốt những tán nấm đang xoè, cảm giác mượt mát như nhung. Chị hiểu đây là thời kỳ sinh trưởng quan trọng nhất của cây nấm Linh Chi. Kết quả còn phải đợi, nhưng dẫu sao, đã là bước khởi đầu tốt đẹp.

Bình buông bình tưới, đi lại chỗ Thương, nói: Mỗi giàn lụi mất chục bịch cộ ạ. Có lẽ tại lúc sang thạch cháu xát khuẩn không tốt nên mới thế. Thương chỉ vào bịch nấm bị thui tán, nói: Không phải do cháu đâu. Chắc do nước đái chuột đấy. Để mai cô mua keo dính chuột làm bẫy. Đừng.. Đừng mua dính chuột cô ơi. - Bình kêu lên - Làm thế mắc tội sát sinh đấy! Cái thằng - Thương nhìn nó - Sợ cả chuột bị chết. Nghĩ vậy nhưng chị không nói ra mà bảo - Để cô nói với bác trông vườn đan phên che khu vực trồng nấm vậy.

Bình khẽ "Vâng" rồi đi đến nơi treo hàn thử biểu xem nhiệt độ. Xem xong nó đi xung quanh tắt điện, hạ mành che nắng. Linh Chi là loài cây khó tính, đỏng đảnh, thiếu sáng đổ bệnh, thừa sáng dễ lụi, độ ẩm nhiều thân cây phình ra như người bị bệnh phù rồi héo rũ; thiếu độ ẩm tán cây quắt queo, đen đúa như loài nấm ma rồi rụng xuống. Bọn Sơn ngoẹo, Nam đao thay nhau trực đấy, nhưng cả hai đang sức ăn sức ngủ nên Bình không yên tâm. Đêm đêm, Bình tự thức tưới nước để giữ độ ẩm, duy trì nhiệt độ dao động từ 22 đến 24 độ C. Thương cũng vậy, dạo này ít ngủ, cứ lúc lúc lại dậy phụ Bình tưới.

Có lần nghe Doan tâm sự: Trại mình lần này trông cả vào anh Bình đấy. Bao nhiêu tiền mẹ Thương đã đốc hết vào đợt nấm này rồi. Nếu thất bại nữa chỉ có cách tụi em chia nhau đi thiên hạ ăn xin thôi. Nghe, Bình cười không nói. Bình tin vào công việc mình đang làm.

Dẫu vậy, nó vẫn hồi hộp, lo lắng. Nếu trước đây, nó trồng nấm vì tò mò thích thú, được, hỏng cũng chẳng sao. Thì bây giờ, thành công hay thất bại sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới sự sống còn của trại. Nó chờ đợi, mong mỏi hàng ngày, thậm chí để mắt theo dõi từng giờ, từng phút. Một hạt bụi vương trên tán nấm cũng làm nó nhói lòng, một thân mầm rụi đen cũng làm nó xót xa. Ngay những lúc tọa thiền, mắt nhắm nhưng tâm trí dồn cả vào hình ảnh cây Linh Chi được mệnh danh là Mẫu Linh Chi trưng bày ở phòng làm việc của giáo sư Hoàng. Mọi điều thầm nguyện của nó đều hướng tới ao ước sẽ trồng được những cây nấm như thế. Phần nữa, nó muốn chứng minh và khuất phục nỗi hoài nghi của bọn trẻ.
 
283 ❤︎ Bài viết: 1434 Tìm chủ đề

Chương 32​


20261031-092615-fbb877cccf.png


32

Làng người Bru ở đầu nguồn. Gọi là làng nhưng chỉ có mấy nếp nhà sàn nhỏ nằm dọc theo dòng suối. Ngôi nhà sàn của vợ chồng Briên dựng dưới một cây sui già. Khi Lai và Briên đưa Hoa về đến nơi trời đã tối. Trong nhà đồ đạc sơ sài, bên cạnh ban thờ đặt giá treo trống, kèn, đàn tơ rưng và những chiếc chiêng đồng to, bé khác nhau. Dưới ban thờ để một thanh gươm và chiếc nồi đồng nhỏ. Theo tập tục của người Bru, như vậy Briên đã có con gái gả chồng. Trên ban thờ, ngoài những ngôi vị thờ thần mặt trời, mặt trăng, thần lúa, thần nước, thần lúa, thần đất, thần rừng, thần núi.. Còn có năm chiếc bát, biểu tượng bản mệnh của mỗi thành viên đang sống trong gia đình. Bếp nấu đặt ngay trên sàn, lửa đượm hồng, ba đứa trẻ trần như nhộng ngồi quanh, mặt mày nhem nhuốc, đầu tóc rối bù. Chúng đang ăn một thứ cháo đặc sệt được nấu trong một chiếc xoong quân dụng. Nhìn Lai và bố khiêng Hoa vào mấy đứa trẻ tròn xoe mắt. Vợ Briên nói với các con bằng tiếng của mình, mấy đứa trẻ ùa nhau đứng dậy chạy vào buồng. Bà ta bê xoong cháo đem vào cho bọn chúng.

Vợ Briên mang chiếu và tấm chăn sui ra. Lai cầm chiếu trải xuống sàn phía đầu hồi, vợ Briên giằng lấy, vẻ mặt cau có, gạt Lai ra lật chiếu lại trải dọc theo nhà. Thấy vậy Briên cười: Lý người Bru phải thế mà. Bộ đội Lai để vợ mình làm cho Lai chợt nhớ phong tục, tập quán và những thứ kiêng kị của người Bru đã được học ở trường và hiểu ra. Tự trách mình quên, Lai chắp hai tay lên ngực nhận lỗi.

Trải chiếu xong, vợ Briên lấy bùi nhùi nhúi vào bếp lửa, hơ lên chiếu, hơ quanh nhà như người Kinh đốt vía, những làn khói mỏng tang mang hương thơm dìu dịu. Vừa làm vợ Briên vừa lẩm bẩm đọc chú. Rồi chị mang ra treo ngoài cửa. Briên giải thích: Làm thế cho con ma rừng không bắt được cái hồn bộ đội Hoa.

Xong việc, vợ Briên ra hiệu cho Lai bế Hoa vào. Đặt Hoa nằm xuống, Lai lấy ba lô lót đầu cho cô gối, hỏi: Còn đau lắm không em? Hoa lắc đầu. Không hiểu có phải do cây thiêng mà Hoa không thấy đau, chỉ thấy ê ê, buồn buồn và đôi lúc cảm giác không còn bụng nữa. Hoa nói: Hình như em khỏi rồi anh ạ? Có mà thuốc tiên - Lai bật cười - Briên nói phải đắp thuốc một tuần trăng vết thương mới liền miệng, hai mươi lần ông mặt trời xuống núi mới đi lại được.

Hoa thở dài. Vậy là phải mất hàng tháng. Không thấy mình về chị Thùy và mọi người trong đơn vị thể nào cũng đoán mình đã hy sinh rồi. Tự nhiên nước mắt Hoa ứa ra. Lai vờ như không biết, anh mở ba lô lấy tấm dù hoa đắp cho cô. Briên bê bát cháo lại: Bộ đội Lai cho bộ đội Hoa ăn đi. Lai lấy thìa bón cho cô. Cháo nóng, mùi nồng, tanh lợm, có vị đắng khiến Hoa buồn nôn. Lai dỗ dành: Em cố ăn đi, một chút thôi, cố lên em..

Hoa húp được mấy miếng thì thấy mi mắt trĩu nặng, cô đẩy bát ra: Thôi, em không ăn nữa dâu, em muốn ngủ. Lai nài nỉ: Ăn cố thêm ít nữa rồi ngủ. Thế.. Thế.. Thêm miếng nữa nào.. Giọng Lai thật nhẹ. Hoa tưởng như hồi còn bé, mỗi lần Hoa ốm, bố vừa ép vừa dỗ dành: Hoa của bố ngoan nào, ăn thêm miếng nghe con.. Nghe lời, Hoa không nỡ chối từ. Cô vừa nuốt cháo vừa ngắm anh. Lai không đẹp trai, khuôn mặt già trước tuổi cộng với nước da sốt rét trông anh khắc khổ, nhợt nhạt và yếu đuối, đôi mắt quầng thâm, mũi to, khoé miệng trễ, cằm bạnh. Người đâu mà lém lỉnh thế! Hoa chợt nhớ tới lần đầu gặp Lai, ngộ thật đấy, và cô không ngờ anh chính là người cùng cô trong lúc gian nan nhất. Sự ràng buộc ngoài ý muốn. Bỗng Hoa víu tay anh: Em sợ ngủ rồi không dậy được nữa thì sao? Lai vuốt bờ tóc mai cho cô, động viên: Đừng nói thế, em phải sống để còn đi tìm anh Hải mà. Phải rồi - Hoa nghĩ - Mình đã gặp anh ấy đâu mà được chết. Hải ơi, giờ này anh ở đâu? Cơn ngủ ập tới, Hoa thiếp đi mang cả hình ảnh người yêu vào giấc ngủ..

Briên đến bên Lai, ông ngồi xuống đặt bàn tay lên trán Hoa, nói: Tốt rồi mà, bộ đội Hoa ăn cháo cây thiêng nên nó ngủ đấy! Bây giờ mình và bộ đội Lai uống rượu thôi, uống mừng con ma Mỹ không bắt được cái hồn của bộ đội Hoa rồi.

Vợ con Briên đã ngủ. Ngoài trời bắt đầu mưa, tiếng mưa rừng à à kéo dài não nuột, gió lùa qua mái nhà kêu u.. U.. Như tiếng cô hồn gọi bạn. Briên bê ché rượu rót ra bát đưa cho Lai: Uống đi bộ dội. Đón bát rượu Lai ngần ngừ. Anh không uống rượu, bởi hình ảnh người cha say xỉn suốt ngày đày ải mẹ con anh, nên anh đã thề không bao giờ uống. Nhưng ở dây, trong tình thế này anh không uống không được. Lý của người Bru vậy mà. Rượu là phần rất đời của tộc người này. Rượu biểu hiện cho nỗi niềm vui, buồn, sướng, khổ; là cầu nối thiêng liêng giao cảm với thần linh; của linh hồn sống với linh hồn chết; sự hiếu nghĩa với tổ tiên, dòng họ, cha, mẹ, vợ, con cùng với tất cả những gì họ sống. Đời người Bru đơn giản, sống hòa thuận, đoàn kết bên nhau, không quyền thế, chức sắc, không bóc lột, không tranh giành, tỵ nạnh, ai tốt với họ thì họ tốt lại. Trọng nhau theo lứa tuổi, theo cái lý họ cho là đúng.

Lai nâng bát rượu lên ngang tầm đáp lễ, ngửa cổ uống một hơi. Anh cố nén sặc, sặc sụa là bất nhã. Briên cười, ngọn lủa bập bùng hắt lên khuôn mặt săn chắc của người đàn ông Bru. Nụ cười mới hiền lành sao. Briên bốc miếng nai khô đưa cho Lai: Nai khô mình bắn được mấy mùa trăng rồi đó. Cảm động, Lai nắm tay Briên: Bộ đội Lai cảm ơn Briên nhiều. Briên lắc đầu, lấy tay vỗ vai Lai: Bộ đội tốt, thằng Mỹ ác. Ai tốt người Bru tốt lại mà.

Câu nói ngắn gọn, khúc triết, lý lẽ giản đơn của Briên làm Lai nhớ đến bài dân ca chỉ có hai câu của người Bru: Như Lửa gặp Gươm/ Như chàng gặp Nàng. Cho tới bây giờ, trong đêm sâu giữa rừng Trường Sơn, anh mới thấu hiểu một tộc người kiệm lời nhưng rộng ý, cái chí khí của người rất người của một tộc dân mà sự biểu cảm chỉ bằng hành động khi muốn biểu đạt thành ý của mình.

Men rượu ngấm, khuôn mặt Briên hừng ánh lửa, đôi mắt long lanh. Chợt Briên đứng đậy, bước đến giá để nhạc cụ, nhấc chiếc chiêng to nhất ra vừa múa, vừa gõ, vừa hát:

Thương kèn khui/ Số phận dập vùi/ Từ thủa măng tơ/ Có người đến bẻ/ Khi thành cây tre/ Mưa dập gió dồi/ Con voi đi ngang/ Xéo lên cành lá/ Con chim bay xa/ Ngọn tre làm tổ/ Chưa khổ hay sao? / Ai kia ngồi đó/ Lại đốn tre về/ Dùi tre thành lỗ/ Xương thịt quặn đau/ Lòng săn rét gió/ Ta cất tiếng kêu/ Trong ngoài đều tỏ..

Tiếng chiêng lay động những thanh âm sâu lắng, lời ca buông trầm ấm, đầu Briên lắc lư theo nhạc điệu, mắt Briên lúc lim dim lúc bừng sáng. Đôi chân trần nhún nhảy, vạt khố đung đưa, ngực trần lấp loáng. Bóng Briên tạc lên vách sừng sững, uy vũ, kiêu hãnh như thần linh hiển hiện.. Briên hát bằng tiếng dân tộc mình rồi lại hát bằng tiếng Kinh. Lời ca phơi trải tâm tình người Bru dịu dàng, tha thiết, dồn nén, trào dâng.. Bập bùng lửa, bập bùng nhịp ca, bập bùng tiếng chiêng. Lai lắng nghe như bị cuốn hút, người lâng lâng, anh đứng dậy, chân nhún nhẩy theo nhịp chiêng. Rồi hai người nắm tay nhau cùng nhảy, bếp lửa hồng reo vui. Rồi lại uống, ché rượu này vơi, thay ché khác. Rượu người Bru nhiều như nước suối, tình người Bru nhiều như lá rừng. Uống đi, uống cho tan mưa tạnh gió; hát đi, cho tình người thắm thiết. Khúc hát người Bru, nỗi lòng người Bru, tình cảm người Bru chan chứa dội vào lòng người chiến sĩ xa đơn vị cho vợi nỗi cô đơn..

Lai và Hoa ở nhà vợ chồng Briên, khi vết thương của Hoa đã đỡ hai người bàn với nhau ra đi tìm đơn vị. Nghe Lai tỏ bày Briên không nói gì, ông mang ná đi săn, bắn được đôi gà rừng. Vợ Briên mổ thịt một con nấu xôi cúng cầu an cho Hoa và Lai. Còn một con gói lại cho hai người mang theo. Bữa ấy, Briên trầm ngâm, vẻ mặt tư lự, nhấc bát rượu lên lại đặt xuống. Lai đề nghị được kết nghĩa anh em với ông. Briên lẳng lặng đứng dậy lấy thêm một chiếc bát đặt lên chồng bát trên ban thờ, rút mũi tên trong ống ná, quỳ, khấn: Xin các Yang bằng lòng cho bộ đội Lai thành người Bru, làm em của Briên. Kẻ nào sai lòng xẻ dòng suối làm hai sẽ như mũi tên này. Nói rồi Briên bẻ đôi mũi tên nhúng vào bát rượu uống một nửa còn lại đưa cho Lai. Lai đón bát rượu, đặt con dao găm lên ngang miệng bát, thề: Tôi là Nguyễn Xuân Lai, bộ đội giải phóng, xin kết nghĩa cùng Briên làm anh em. Sau này đất nước giải phóng, nếu còn sống, tôi sẽ về gặp lại, có phúc cùng hưởng, có họa cùng chia. Lai ngửa cổ uống hết bát rượu, không nén nổi xúc động, mắt anh cay xè.

Thấy vậy Hoa ngỏ lời đề nghị xin được kết nghĩa, Briên lắc đầu: Bộ đội Hoa làm em dâu được thôi, không kết nghĩa được đâu. Tao xem ý em Lai đem lòng thương bộ đội Hoa rồi, bằng lòng làm vợ nó đi. Nghe Briên nói, mặt Lai đỏ bừng, nói chữa: Không phải đâu anh Briên ơi, bộ đội Hoa có người yêu rồi. Briên vẫn lắc đầu: Cái nghĩ của tao không sai đâu mà. Bộ đội Hoa không bằng lòng sao để em Lai nhìn hết cái người rồi?

Nghe Briên nhắc, Hoa xấu hổ. Thế ra chuyện gì Briên cũng biết. Nhớ hồi mới bị thương, cùng lúc Hoa đến thời kỳ kinh nguyệt, máu tháng chảy nhiều, hôi khẳn, cô ngượng, nửa đêm gượng dậy thay quần áo, nhưng không tài nào làm nổi vì vết thương căng cứng, hơi cựa mình là đau. Lai tỉnh dậy, nhìn cô loay hoay, hỏi: Em sao vậy, cần gì sao không gọi anh? Không còn cách nào khác, Hoa thú thật. Lai cười: Tưởng gì, để anh thay cho. Lai dùng nước nóng lấy khăn lau rửa thay khố cho cô.

Chuyện kín vậy không ngờ Briên biết, Hoa chữa ngượng: Em có chồng chưa cưới rồi, thật mà! Nhưng Briên đưa cái lý người Bru ra: Con gái thương nhiều nhiều mới cho con trai xem cái nụ, cái hoa của mình mà. Đợi hết thằng Mỹ, bộ đội Hoa làm dám cưới với em Lai, Briên mổ trâu mừng mà..

Hoa chúi mặt cười trừ, còn Lai lấy rượu khỏa lấp nỗi xấu hổ. Anh uống liên tiếp thấy lòng mình vui vui. Sự cảm nhận ngay lúc đó chỉ là tinh thần đồng đội, không một chút dung dục. Nhưng đến bây giờ, khi Briên nhắc lại, hình ảnh sâu kín trên thân thể Hoa bừng sáng như bản khắc, hoa lại từng chi tiết, cùng với sự cảm nhận khác giới, người anh lâng lâng một nỗi hoài cảm không rõ nghĩa. Có sao dâu, một chút ước của tâm hồn, sự khao khát ấy nhiều khi trở thành điều tội lỗi. Anh trân trọng tình yêu của Hoa với Hải, nhưng ai bắt được anh không nghĩ về cô? Chẳng nhẽ niềm vui nhỏ nhoi ấy anh cũng bị tước quyền ư? Lai chưa yêu bao giờ, và đây là người con gái đầu tiên anh gần gũi nhất. Thời gian không nhiều nhưng đủ cho anh nhận ra tính tình nhu mì, đôn hậu, dịu dàng trong sáng của người con gái miền biển. Đôi khi anh thầm nghĩ, giá Hoa chưa có người yêu.. Nhưng anh cố xua đi ý nghĩ ấy, cố kìm nén và hứa thầm sẽ quan tâm và xử sự với cô như một người đồng chí. Lai ngước mắt nhìn Hoa, cô bắt gặp đôi mắt nói nhiều hơn nói, khát khao hơn khát khao, chứa đựng tình cảm chứa chan mãnh liệt.. Lai ơi, giá chi em chưa hẹn thề cùng Hải, anh sẽ là người em muốn trọn đời cùng đi. Lời nói đọi máu mà anh, em như ván đã đóng thuyền, đành xin lỗi hẹn cùng anh..

Briên tiễn hai người đến hết cánh rừng đầu nguồn thì dừng lại, ông đưa cho Hoa một gói cây thiêng dặn dò: Bộ đội Hoa nhớ bôi thuốc cho già cái sẹo - Rồi ông quay sang bảo Lai - Muốn sang Lào thì đi về nơi mặt trời ngủ; xuống Quảng Trị đi theo hướng mặt trời dậy; đi ngang suối là vào, ngược lại là ra. Lai bùi ngùi ôm Briên thì thào: Em đi anh Briên à. Người đàn ông Bru khóe mắt hoe đỏ rịn nước, răng bậm môi, gật đầu rồi dứt khoát đẩy Lai ra quay lại bước đi. Lai và Hoa nhìn theo bóng ông khuất dần trong rừng ướt đẫm sương đêm..

Hoa và Lai theo dòng suối đi về phía hạ lưu. Cả hai im lặng. Giây phút lưu luyến chia tay với Briên trĩu nặng. Từ nay, ngoài người mẹ và những đứa em thân yêu, anh và Hoa còn mang một khối tình sâu nặng với gia đình người Bru.

* * * Nghỉ một lát đã anh - Tiếng Hoa cắt đứt dòng suy nghĩ của Lai. Anh hỏi: Em đau à? Hoa đáp: Cạp quần nhay đi nhay lại khó chịu quá. Hoa ngồi khuất sau một bụi cây, kín đáo mở thắt lưng kéo quần xuống. Vết thương đang lên da non, sùi ra những cục thịt thừa tái như miếng thịt chín, có chỗ đen đúa như thịt trâu khô, bị dây lưng cọ vào tướm máu. Cô mở gói bột cây thiêng nhúm một ít rắc vào. Chút cảm giác dìu dịu lan khắp cơ thể. Hoa đứng dậy kéo cao cạp quần lên rồi đi ra: Đi thôi anh - Cô nói. Lai hỏi giọng lo lắng: Có sao không em? Hoa lắc đầu nhưng hình ảnh vết sẹo sùi như da cóc vẫn lởn vởn trong óc cô. Cứ tưởng tượng lúc gặp Hải, cô rùng mình lo lắng. Anh ấy mà thấy vết thương như thế này thì sao nhỉ? Lai hiểu ý, vỗ về: Quan trọng là em khỏi đã. Nay mai hòa bình về thẩm mỹ lại chắc là sẽ như cũ. Vả anh nghĩ, những người lính đã từng ở chiến trường dễ cảm thông. Mà biết đâu.. Câu nói nửa chừng của anh làm cho Hoa nghĩ ngợi. Ừ, giá mà Hải cũng bị thương.. Cô không dám nghĩ tiếp nữa, nhưng tự đáy lòng cô ao ước anh đừng chết, và có bị thương thì bị thương nhẹ thôi, chỉ đủ để anh cảm thông và chia sẻ cùng cô..

Lai muốn đưa Hoa về trạm giao liên rồi đi tìm đơn vị. Nhưng Hoa không nghe, cô nói: Đằng nào chị Thùy và đồng đội cũng nghĩ em chết rồi. Em theo anh vào trong kia, ở đâu chẳng là đánh Mỹ. Lai hiểu ý của Hoa muốn thực hiện ước mơ tìm gặp người yêu. Điều đó thật khó, chiến trường thì rộng, quân đông, đơn vị nhiều, điều ao ước của Hoa khác chi mò kim đáy biển. Nhưng ý chí, sự quyết tâm, niềm thuỷ chung của Hoa làm anh cảm phục.

Lai và Hoa hướng về phía biển ngày nghỉ đêm di. Vết thương của Hoa chưa lành, thi thoảng lên cơn đau nên cứ khoảng nửa tiếng đồng hồ hai người lại nghỉ giải lao, tốc độ hành quân chậm. Nếu chỉ mình anh thì một nhẽ, đằng này còn có Hoa, cô mang "sứ mệnh" đặc biệt ra mặt trận tìm người thương. Lai nghĩ, nếu nói chuyện này với tay chính trị viên tiểu đoàn của mình ắt hắn sẽ cho như vậy là mất quan điểm lập trường chính trị. Nhưng suy cho cùng, tình yêu làm gì có tội. Và mục đích của con người chẳng đang đi đánh nhau vì sự tồn tại của hạnh phúc lứa đôi đó sao?

Lai không phải là người lý tưởng hóa. Chiến tranh đối với anh như lẽ tự nhiên, anh cầm súng chiến đấu vì lòng tự trọng của con người. Trong cái tập thể vĩ đại ấy, anh chỉ là con số nhỏ, một dấu phẩy trong trang sách lịch sử. Và nếu không đi bộ đội, hẳn bây giờ anh vẫn còn là một kẻ sống tự do, lang bạt kỳ hồ. Văn hóa chưa hết cấp ba, vào làm công nhân hầm mỏ thì không muốn. Cái chết không toàn thây của cha trong hầm khai thác than luôn ám ảnh, anh không sợ nhưng công việc đó thật ghê tởm, tử thần luôn rình rập, mỗi khi ra khỏi hầm than người thợ thấy ánh mặt trời mới biết mình còn sống. Lao động vất vả, nguy hiểm, tháng tháng nhận chút lương còm cõi, hàng ngày lấy rượu giải khuây..

Vào bộ đội, nhờ sức vóc cao to, nhanh nhẹn, anh được chọn đi học trinh sát rồi được bổ sung vào chiến trường. Cuộc đời binh nghiệp rèn đúc anh trở thành người độc lập. Nhiệm vụ của anh là trinh sát chiến thuật, luồn sâu vào cứ điểm địch, đếm từng ụ pháo, nhớ từng lô cốt ghi vào trong đầu rồi vẽ lại sơ đồ, tính toán tọa độ báo cáo cấp trên. Nguy hiểm nhất là khi cấp trên yêu cầu "cái lưỡi". Muốn có "lưỡi", anh phải cởi hết quần áo, nhuộm nắng, phơi sương hàng tuần cho hết hơi người, đêm chui vào cứ điểm địch, tạo chỗ ém, chờ đợi thời cơ. Phải kiếm "cái lưỡi" thật đáng giá. Lính dễ bắt nhưng bắt về nguồn tin không có giá. Đã bắt, phải bắt được sĩ quan. "Cái lưỡi" ấy mới có giá trị.

Nhớ hồi ở Tà Cơn, trước chiến dịch, chỉ huy yêu cầu anh bắt sĩ quan Mỹ. Bọn này sợ đêm tối, sợ súng bắn tỉa, đêm đến nằm tịt trong lều bạt. Lai đột nhập vào tận nơi, nằm chờ. Dưới ánh đèn ngủ, thằng Mỹ đang làm tình với một con gái điếm, thằng Mỹ nhoai người ra sức dập, mông nhấp nha nhấp nhổm, thở hổn hển. Rất lạ, con điếm không rên mà oặt oẹo, mềm nhũn như xác không hồn. Mỗi lần thằng Mỹ rướn, đôi chân con điếm như không có khớp hất ngược bộ dùi trắng lốp. Thằng Mỹ sung sướng tru lên từng đợt rồi nằm ệch ra, hất con điếm ra khỏi đệm. Con điếm nẩy tưng tưng, hóa ra đó là con điếm bằng cao su. Lai suýt bật cười, đúng là kiểu Mỹ thật. Không còn cái gì trên đời là không có.

Thằng Mỹ ngồi dậy, nhấc bi đông rượu tu một hơi rồi nằm ngáy ò ờ như bò rặn đẻ. Chờ nó ngủ say, Lai đánh thằng Mỹ ngất lịm, lật người nó lên cõng di. Thằng Mỹ nặng, gần sáng anh mới đưa nó ra đến bìa rừng. Đúng lúc đó thằng Mỹ tỉnh, nó bóp cổ, dúi đầu anh xuống ra sức đấm. Cùng bất đắc dĩ, Lai gồng người dùng dao găm xiên cho nó một nhát. Thằng Mỹ gục xuống, mang về đến nơi thằng Mỹ sắp chết, phải cấp cứu mới cứu được nó sống.
 
283 ❤︎ Bài viết: 1434 Tìm chủ đề

Chương 33​


20261031-092658-da0c8f1c2e.png


33

Thành cho xe đưa Thắng về đúng vào vụ thu hoạch nấm. Cả trại ùa ra đón. Trông nó phổng phao, hồng hào, béo tốt. Một con mắt được thay bằng con ngươi thủy tinh, mắt kia được giải phẫu, mở rộng bình thường, nếu thoáng trông, không ai nhận ra nó bị mù nữa. Xuống xe, Thắng chạy ào vào ôm lấy Thương: Mẹ.. Mẹ, con nhớ nhà mình quá. Thương quỳ xuống ôm lấy nó, chị không ngăn nổi những giọt nước mắt sung sướng: Con của mẹ, mẹ cũng nhớ con mà, Thắng ơi..

Thành đứng lặng nhìn hai mẹ con ôm nhau giữa bầy trẻ. Anh thấy mắt mình cay sè liền cúi xuống. Chị Thùy hiểu ý, mời anh vào uống nước. Thành nói muốn đi xem nhà nấm. Chị Thùy dẫn anh vào nơi đang thu hoạch. Những cây nấm Linh Chi thân trụ cứng cáp mầu cánh kiến vừa được cắt nằm ngổn ngang trong sọt. Trên giàn, giữa bọc mùn đen thủm, những cây nấm mỡ vừa nẩy, chi chít từng chùm to, nhỏ trĩu trịt, theo thế tượng hình như đàn con xum vầy, tíu tít quanh mẹ, trắng phau phau như bột lọc; xen lẫn, những búi mộc nhĩ mầu trắng đục, nở rộng, vươn lên như những bông hoa xoè cánh.

Thành cầm cây nấm Linh Chi hình chiếc ô xoe xoe trên tay: Thu hoạch có khá không hả chị? Thùy đáp: Tui nghe o Thương nói cũng được anh ạ, nhưng còn chất lượng thì nỏ biết ra răng? Nhưng nghe cháu Bình nói thì có khả quan lắm. Thế còn thị trường tiêu thụ, các chị tính thế nào? - Thành hỏi. Thùy đáp: Có mấy người ở Hà Nội lên mua, nhưng o Thương nỏ bán. Thành ngẩng lên nhìn chị: Sao? Không được giá hả chị? Nỏ phải mô - Chị Thùy nói - Chui cha, o Thương lớn gan lắm. Nỏ muốn kinh doanh thuần tuý, o nớ muốn để lại chế biến sản phẩm mang thương hiệu riêng. O tâm sự với tui, muốn thành lập công ty gì gì đó.

- Công ty? - Thành đứng bật dậy - Cô ấy tưởng thành lập công ty dễ lắm sao? Muốn vậy phải có vốn. Chị Thùy nói: Nỏ biết o nghĩ mần răng. Nhưng anh biết tính o Thương rồi đó. Đã định mần chi, đố ai gàn được mô.

Liều! Liều thật - Thành lẩm bẩm không thành tiếng. Con người lạ thật, không biết mình đứng ở chỗ nào, vừa thoát đói đã tính chuyện làm giầu. Trong thành phố này đã có bao nhiêu cơ sở bị phá sản vì cái kiểu "đẻ non đái ép", vay được cứ vay, mở bừa, mở bãi, đến khi sản phẩm ứ đọng không tiêu thụ nổi, tiền nợ ngân hàng lãi mẹ đẻ lãi con, cuối cùng, kẻ trốn nợ vượt biên ra nước ngoài, kẻ tuyên bố phá sản. Vậy mà.. Thành lắc đầu thất vọng. Phải nói chuyện này với Hải, làm sao ngăn lại những ý nghĩ điên rồ của người đàn bà nhiều tham vọng ấy.

Đã nhiều lần Thành đặt câu hỏi, duyên cớ gì mình lại là người đứng giữa cuộc tình này? Ngoài tình đồng đội, tình bạn cùng với những kỉ niệm, dường như có một cái gì không lý giải nổi, néo chằng anh vào nỗi niềm của hai số phận mang trong tim mối tình éo le, trắc trở? Không vì địa vị, ở đây địa vị không nói lên điều gì. Phải chăng bởi mối dây hóa cảm và trách nhiệm với Hải, thể như người anh trai khi thấy đứa em mình đau đớn? Mỗi lần nghĩ về Hải, khuôn mặt khắc khổ và những nỗi dày vò lại hiện lên, Thành không chịu nổi. Thật vô cớ, Hải coi tất thảy những gì Thương gánh chịu hôm nay, là do chính Hải gây ra. Từ đáy sâu tâm hồn Hải, như có hàng trăm ngàn mũi kim chích vào nhói buốt. Thành cảm nhận được tiếng lòng của bạn đang rên rỉ, gào thét, nhức nhối. Ông còn yêu Hoa? - Có lần Thành hỏi. Bạn anh ngước đôi mắt quầng thâm lên nhìn: Tôi làm gì còn tư cách yêu Hoa. Nói vậy, nhưng Thành biết bạn anh không dễ gì quên. Hoa càng thể hiện thái độ thờ ơ, lạnh ghẻ, thì lại càng làm cho con tim nhỏ nhoi kia thức nhớ. Biến Hải thành kẻ yếu đuối, bạc nhược cùng với nỗi ân hận xót xa, sự nuối tiếc chân thành dẫu khốn khổ. Và, không khác được, ngoài sự cố gắng bù đắp dẫu bằng mọi giá, Hải như kẻ cuồng tín trong lỗi lầm đã mắc. Và, dường như trong chuyện này, Hải muốn Thành làm "sứ giả" của tình yêu..

Những ý nghĩ cứ luẩn quẩn trong đầu Thành cho tới lúc Doan mời anh lên ăn cơm. Anh từ chối nhưng lũ trẻ không nghe. Bọn chúng quây lấy anh, đứa đùn, đứa đẩy. Con Doan kéo dài giọng hờn mát: Bác Thành chê cơm của mẹ con cháu rồi. Cháu ứ chơi với bác nữa. Thành cười: Ăn thì ăn, bác cũng đang đói đây. Thương nói: Cơm bữa mà anh, anh ăn cho các cháu vui. Chờ cho anh và người lái xe ngồi xuống, chị quay sang bảo Ngọc Anh: Nào, làm thủ tục đi con. Ngọc Anh đứng dậy, liêng láo: Có bác Thành vẫn hát hả mẹ? Thương cười: Bác Thành là người nhà mà con. Quy định chung của trại rồi, Bác Thành cũng phải chấp hành chứ! Nói xong chị quay sang Thành - Anh đồng ý thế chứ ạ? Thành cười: Đồng ý cả hai tay. Thế là Ngọc Anh giơ tay bắt nhịp: Nào, tất cả chuẩn bị: Như những cánh chim bay.. Hai.. Ba. Tiếng hát được cất lên cùng lúc, âm sắc thanh, trầm chen nhau lổn nhổn. Thành đã nghe chuyện này rồi, nhưng hôm nay là lần đầu tiên anh chứng kiến tận mắt, nghe tận tai. Bọn trẻ vừa hát vừa vỗ tay. Những đứa trẻ hát say sưa, đứa nào đứa nấy cố gào làm sao cho giọng mình hùng hồn nhất. Tiếng thằng Thắng cao hơn cả, có lẽ nó là đứa vui nhất hôm nay. Đơn Đơn ngồi cạnh Zuân, dùng một tay vỗ vào bàn tay duy nhất của Zuân, còn tay kia bá cổ Zuân, hai mắt sáng rực, mồm véo von, cái đầu xinh xắn đung đưa, đôi bím tóc thắt nơ màu vàng vảy đi vảy lại, hai gò má hồng hào trông đến ngộ.

Nghe tiếng hát, Thành chợt nhớ lời kinh nguyện trước bữa ăn của những người theo Cơ Đốc giáo. Nhưng ở đây, trong chiếc lán mới dựng, cột tre còn xanh óng, thoảng nồng mùi lá cỏ lợp mái, và những chiếc bàn ken phên, cùng với bữa cơm đạm bạc và những đứa trẻ quây quần, hát những bài hát của một thời đã qua. Âm hưởng gieo vào lòng anh khiến anh cảm động. Lời ca nhắc anh nhớ về quá khứ và cho bọn trẻ quên đi những thiếu hụt thể xác, phiền muộn. Và nấp sau thể xác ấy là những linh hồn trong trẻo, vô tư đến lạ lùng. Từ sâu kín, trái tim anh quặn nhói, nỗi se thắt trào dâng, ứ lên niềm xót xa. Và, anh nhận ra một điều dường như chưa bao giờ anh biết, cùng bữa cơm đạm bạc là những mảnh đời bé nhỏ đang trôi trên muôn ngàn lớp sóng phũ phàng.. Thành chợt nhớ tới những bữa tiệc sang trọng, xen lẫn trong tiếng lanh canh chạm cốc là những lời mời dư thừa khách sáo, thậm chí lẩn khuất đầy rẫy những âm mưu ám muội..

Sau bữa cơm. Thương bảo chị Thùy và Doan gói nấm tươi làm quà biếu Thành và người lái xe. Thấy có ba túi, Thành thừa biết nhưng vẫn cố tình hỏi: Thế còn một túi gửi cho ai đây? Doan lấp lửng: Gửi cho ai bác hỏi mẹ cháu ấy! Thương đỏ mặt: Cho ai thì anh biết rồi sao còn hỏi khó tôi. Nhân tiện nhờ anh nói lại với anh ấy, số tiền cầm của thành phố, trước sau chúng tôi sẽ hoàn lại. Nhìn vẻ ngượng nghịu của Thương, anh biết người đàn bà này vẫn còn nghĩ đến người tình cũ lắm. Anh nói: Chị nên thông cảm với anh Hải. Công việc nhiều mà sức khoẻ của anh ấy dạo này kém lắm. Thương đáp: Về sức khoẻ của anh Hải thì thiếu gì người lo. Đâu cần đến chúng tôi. Nhưng anh Thành khỏi băn khoăn. Trại nấm Linh Chi có lòng biết ơn mà. Thành nói: Ơn huệ gì đâu mà chị khách sáo vậy. Theo tôi, cái quan trọng là chúng ta có nên nặng nề với quá khứ không? Chẳng lẽ cứ ôm vào lòng những khổ đau dằn vặt mãi? Vâng - Thương đáp - Anh nói tôi biết vậy. Nhưng.. - Thương cúi đầu ra chiều suy nghĩ.. Thành đứng khoanh tay chờ đợi, anh nhìn mái tóc điểm bạc của người đàn bà bất giác thấy lòng mình đau nhói.

Thành hiểu, quá khứ đè nặng trong lòng họ. Tất cả vẫn sống, nhưng cuộc sống chưa lúc nào thanh thản. Hải luôn mặc cảm vì đã làm hại đời một người con gái. Còn Thương - bà chủ trại nấm Linh Chi, luôn nhìn người tình cũ với mối hận trong lòng. Để vượt qua, đâu chỉ một sớm một chiều.. Khi ràng buộc vào chuyện hai người, đôi lúc Thành tự vấn lương tâm mình. Bạn anh đã có một gia đình ấm êm hạnh phúc và đang nắm giữ địa vị cao trong xã hội. Liệu việc anh can thiệp, thậm chí muốn "nối" lại tình cảm giữa hai người phải chăng đi ngược lại luân thường đạo lý? Là cán bộ công an, với bản năng mạnh mẽ, có nghiệp vụ chuyên sâu, nhiệm vụ của anh là chấp hành pháp luật, bảo vệ công bằng xã hội. Anh không thể lấy quyền hạn của mình ngang nhiên phá vỡ những quy định ấy. Nếu làm vậy, thì chính anh đã đi ngược lại lý tưởng mình đã chọn.

Nhưng trong chuyện này - Thành đặt mình vào họ để suy luận - Hải, Hoa, và anh nữa, chỉ là một trong bao nhiêu con người đã từng đi qua chiến tranh. Nhưng có phải bất cứ ai cũng nhận vào mình những hậu quả không lường trước. Hậu quả cuộc chiến đâu chỉ là sự hy sinh xương máu hay những vết thương trên da thịt, những cái đó rồi sẽ qua đi theo thời gian. Nhưng khuất lấp sau chiến tranh, hai người nhận vào mình sự trớ trêu đối điện nhau trong một hoàn cảnh như số phận dành cho họ.

Họ không viện cớ bởi chiến tranh nên cuộc tình tan vỡ. Cả hai cho rằng cuộc chiến là một quy luật đương nhiên. Mà họ đổ lỗi cho chính trái tim mình. Người đàn bà từng đinh ninh sống với lời nguyện thề thuỷ chung như nhất, nên đau khổ, hờn cảm khi bị bội ước; còn người đàn ông tự trói buộc vào hoàn cảnh và dằn vặt mình như một kẻ gây nên tội. Không có luận đề hay định hướng cứng nhắc cho những trái tim yêu; không lý giải bằng một mớ thuyết giáo nhạt thếch cho một cuộc tình tan vỡ. Dĩ vãng luôn hiện về trong tâm tưởng và chất chứa trong mình những năm tháng cùng cực, nhọc nhằn như khối u chưa giải phẫu.

Và anh tự nhận cho mình trách nhiệm ấy, thể như kẻ đưa tay vác đỡ cây thập tự cho người lữ khách trên đường hành hương. Anh vượt qua cả chức trách mình đảm nhận, bỏ qua lối suy diễn giáo điều, khiên cưỡng, đạo đức giả. Bởi anh biết, những người như Hải, Hoa cần anh, như mong tìm đến chiếc chìa khóa để mở cánh cửa lòng cho phần đời còn lại được thanh thản. Mà anh - Người Đồng đội, Người Bạn, Người Anh, thậm chí hơn nữa - Bằng tấm lòng bao bọc, chở che như Người Cha Cuộc sống với những linh hồn ủy mị, yếu mềm, lay lả..

- Anh nghĩ gì đấy? - Thương hỏi. Thành lắc đầu xua đi những ý nghĩ luẩn quẩn trong đầu và nói: Có chuyện này tôi muốn bàn với chị. Thương hỏi: Chuyện gì thế anh Thành? Thành đáp: Anh Hải nói với tôi: Hiện nay thành phố đang có đợt tuyển sinh, chị thu xếp cho cháu Doan đi học lớp kế toán, tài chính làm người kế thừa sau này. Tôi thấy ý của anh Hải rất đúng. Nếu chị đồng ý, tôi sẽ về truyền đạt lại, anh Hải sẽ làm việc với nhà trường, xếp cháu vào diện ưu tiên. Nghe Thành nhắc đến Hải, chị chau mày lại nhưng im lặng. Thành dấn thêm một bước: Tuy công việc của thành phố rất bận, nhưng tôi biết anh Hải lo cho trại ta lắm.

Hải lo cho mình? Thương cảm tưởng như Thành cố tình nhắc đến Hải trước mặt chị. Để làm gì nhỉ? Nhưng phản ứng lúc này là thiếu tế nhị, chị nói: Trại xin cảm ơn sự quan tâm của các anh. Nhưng như vậy thời gian chờ đợi lâu quá, mà tôi muốn đốt cháy giai đoạn. Nhưng có điều, nếu thiếu danh chính ngôn thuận, e khó giao dịch. Vậy ý của chị thế nào? - Thành hỏi. Thương đáp: Tôi định liên kết với Viện Nông học, nhờ đứng tên. Vốn ngắn, đành tổ chức sản xuất theo kiểu thủ công, dùng sản phẩm nuôi sản phẩm. Vậy chị muốn mượn danh? Thành hỏi. Thương bẽn lẽn: Như anh thấy đấy, thời đại nhãn mác, sản phẩm tốt, chất lượng đảm bảo, mà núp dưới tên hiệu cơ sở nhỏ thì khó tiêu thụ lắm. Thành tiến thêm một bước: Vậy khó khăn của trại thế nào, xin chị cứ nói, tôi sẽ về trình bày lại với anh Hải. Thương liếc xéo Thành: Khó khăn của chúng tôi hiện nay là vốn quay vòng và trang, thiết bị và đầu ra. Nếu có thể.. - Thương ngập ngừng - Nhờ anh tác cả động một số đơn vị tiêu thụ giúp, tất nhiên là trên quan điểm giá cả thỏa thuận. Thành cười xòa: Tôi hiểu ý chị rồi. Để tôi về trình bày lại với anh Hải. Tôi tin anh ấy sẽ ủng hộ chị thôi. Thế còn gì nữa không hả chị?

Thương đề nghị: Còn việc này nữa, nhờ các anh mau chóng can thiệp giải quyết cho chúng tôi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để lấy cơ sở pháp lý vay vốn ngân hàng. Thành đáp: Về việc này chị cứ yên tâm. Chính phủ vừa ban hành nghị định về quyền sử dụng đất đai, quy định lấy mốc thời gian từ ngày l5 tháng l0 năm l993 trở về trước để giải quyết, vì vậy chị nên kiên trì chờ đợi. Thương mở thêm đợt tấn công: Nghị định là vậy, nhưng thực thi thế nào lại là chuyện khác. Anh biết không, sau lần giải tỏa không thành, bọn họ tìm mọi cách phá chúng tôi. Trước mặt các anh một thái độ, sau lưng các anh một thái độ. Tôi biết chẳng qua cũng vì cái mảnh đất này. Nói thật với anh, giá anh Lai còn sống, tôi tin chính quyền sở tại không đám làm khó, dễ đâu. Nhưng dù anh Lai không còn, tôi đố người nào động đến mảnh đất này. Anh Lai chết đi, để lại cho tôi cái trại này đâu có vì tôi. Mà chính vì những đứa trẻ tàn tật, không nơi nương tựa. Lẽ ra người ta phải ủng hộ, tạo điều kiện giúp đỡ các cháu. Nhưng tuyệt nhiên không. Mẹ con chúng tôi làm lụng nuôi nhau, họ viết đơn tố cáo tôi lạm dụng trẻ vị thành niên, bóc lột sức lao động của những đứa trẻ mang di họa chiến tranh, bắt chúng lao động khổ sai, đày ải chúng để hưởng lợi. Nào - Đột nhiên giọng Thương cao hẳn lên - Anh nhìn xem, tất cả những đứa trẻ ở trong trại, có đứa nào lành lặn không? Nếu không bị đui, què, mẻ, sứt, thì cũng bệnh này, tật nọ. Với hình hài, trí tuệ như thế, ai giơ tay cứu độ? Cơ sở nào dám nhận chúng vào làm? Vậy mà chúng vẫn cần phải sống như tất cả những sinh linh có mặt trên đời này. Họ đâu biết, để có được như hôm nay, chị Thùy đã từng lê chân, vác bị đi các nơi, các chốn, ngửa tay xin từng đồng tiền, bát gạo để nuôi các cháu? Nỗi khổ ấy còn kéo dài đến bao lâu? Vậy mà họ nỡ lòng nào làm vậy? Nói thật với anh, nếu bây giờ xã hội cưu mang được bọn trẻ, tôi sẽ trả lại nhà nước tất cả, nguyện một lòng theo chị Thùy khoác áo tu hành cho thanh thản..

Vào đà, Thương dồn dập nói, nói như chưa bao giờ được nói. Khuôn mặt đanh cứng, chát chúa lịm tái vì phẫn cảm. Tuy lời nói có phần thô nháp nhưng trong thâm tâm Thành, anh thừa nhận những điều chị đang nói, đúng với thực tế diễn ra trong thành phố Ninh Hải. Và, Thành cảm tưởng như mình đứng trước vành móng ngựa, bị quan tòa luận tội. Những lời nói ấy như cứa vào lòng một người đầy lòng trắc ẩn. Anh hiểu đó là những công việc nhạy cảm. Giải quyết như thế nào, đâu phải ngày một ngày hai, nhưng sự trì trệ kéo dài sẽ ném bỏ niềm tin của con người vào cuộc sống.
 
283 ❤︎ Bài viết: 1434 Tìm chủ đề

Chương 34​


20261031-092739-fc5b42b94e.png


34

Phải mất một tuần Lai và Hoa mới ra tới bìa rừng. Phía dưới kia đã là đất Quảng Trị. Theo kế hoạch, lẽ ra giờ đây Lai đang ở đơn vị nhưng trớ trêu anh lại bị kẹt ở đấy. Hôm qua lúc trèo lên cây tìm phương hướng, đã nhìn thấy những trảng đất rộng bằng phẳng. Xa xa, con sông Thạch Hãn nhỏ như sợi chỉ bao ôm thị xã và những tháp chuông nhà thờ cao vút. Mặt trận gần lắm rồi, đã nghe tiếng máy bay gào rú, quần đảo trên trời cùng với đạn pháo nổ, bụi khói mù mịt, tiếng súng AK và đạn AR15 đối công rát ràn rạt. Chắc ác liệt lắm. Ruột Lai nóng như lửa đốt, máu chiến đấu sôi sùng sục.

Đào hầm, căng võng cho Hoa nằm nghỉ xong, Lai xách súng đi vòng quanh xem xét địa hình. Óc trinh sát và kinh nghiệm những năm trong chiến trường nhắc anh cần phải đề phòng mọi trường hợp. Tiếng máy bay cạnh đêm ì ầm, đèn dù lơ lửng trên trời tỏa ánh sáng vàng vọt, gió từ ngoài biển thổi vào lồng lộng. Chợt Lai ngửi thấy mùi thối khẳn, mùi thối đặc trưng của xác chết. Theo hướng gió, mùi chết đưa anh tới một gốc cây to bị bom phạt cụt ngọn, càng đến gần mùi thối càng tanh lợm. Tóc gáy rợn rạo, toàn thân gai ốc nổi rần rần. Ta hay địch? Lai nằm dán mình xuống đất trườn tới. Mùi chết toát ra từ trong hốc cày, Lai nhổm lên: Trong ánh sáng mờ nhạt, một xác người ngồi co ro, chiếc mũ tai bèo úp trên đầu cho Lai nhận ra đấy là một chiến sĩ của mình.

Lai quay về, Hoa ngủ ngon lành, môi thi thoảng mấp máy, trông cô giờ đã khá hơn. Lai nhẹ nhàng tháo xẻng quay lại gốc cây cụt ngọn, hì hục đào hố. Lúc này trời đã sáng, mặt trời le lói tỏa ánh nắng rực rỡ. Lai lấy khăn cổ che lên mũi rồi kéo cái xác ra. Vải quần áo bở bục, cái xác ủng nhợt, rữa, những lớp rũa, hai con mắt bị côn trùng khoét thành hốc, nước vàng nhớt rợt tứa ra. Mở ba lô của người chết ra, ngoài võng, tăng, bạt và hai bộ quần áo có một tấm ảnh nhỏ, đã ố, loang vệt nhưng anh vẫn nhận ra đó là hình một người phụ nữ. Không biết đó là mẹ hay vợ của anh ta? Mở túi cóc, lần trong những thứ lặt vặt, Lai tìm thấy chiếc lọ chứa mảnh giấy ghi địa chỉ: Tráng A Pao, C3 - E4 - F 470 - BTL 559 - Sinh năm 1950 - Quê quán: Bát Xát - Lao Cai. Nhập ngũ tháng 4 năm 1968.

Lai nhét mảnh giấy vào nút lại, gói ghém tất cả tư trang bó cùng tử thi đem chôn. Không có hương, Lai lấy nhành khô đốt lên và khấn: Đồng chí Pao ơi, sống khôn thác thiêng hãy phù hộ cho chúng tôi. Xin vĩnh biệt.

Lúc quay về chỗ Hoa, Lai cố nhắm mắt nhưng không tài nào ngủ nổi. Hình ảnh cái chết của người chiến sĩ lảng vảng trong đầu. Anh không sợ hy sinh, nhưng thà chết trên chiến trường còn hơn là chết thế. Anh biết người chiến sĩ kia chết; vì sốt rét ác tính. Người gai lạnh, cảm giác buốt thấu sống lưng, sự liên tưởng bất ngờ kéo theo cơn rét đột ngột. Anh đưa ngón tay lên mồm cắn cố cưỡng lại. Nhưng hơi lạnh từ trong lòng như trăm ngàn mũi kim xuyên suốt thân thể. Anh co người, quàng tay bó gối, cơ hàm co cứng, răng lập bập. Không chịu được nữa, miệng anh bật ra tiếng hừ hừ nghe như mèo hen.

Tiếng rên của anh đánh thức Hoa dậy. Nhìn anh trong tư thế co cúm, vật vã, Hoa hoảng, nhao tới bên anh, giọng gấp gáp: Anh Lai. Anh làm sao thế này? Lai lắc đầu, mắt mờ dại, tiếng nói líu ríu ngắt quãng: T.. Ôi.. Rờ.. Rờ.. Ré.. Rét quá. Hoa đặt tay lên trán anh, nóng khinh khủng, mồ ôi tứa ra. Anh còn thuốc không? Hoa hỏi. Lai lắc đầu. Chợt nhớ đến gói bột cây thiêng, Hoa mở ba lô lấy ra một ít hòa nước cậy mồm anh đổ vào. Trong lúc đó, da Lai đã bắt đầu chuyển mầu vàng ệch, mắt nhắm nghiền, tiếng răng đập vào nhau như gõ mõ. Hoa tháo tăng, võng đắp lên người anh, nhưng không đỡ, cơn sốt hầm hập, tay chân Lai lẩy bẩy, toàn thân run cầm cập, hơi thở hồn hển, mắt lộn tròng.

Nhìn anh thương quá, Hoa ôm lấy anh ghì riết, dường như cô muốn trao hết thân nhiệt để sưởi ấm cho anh.. Ý nghĩ Lai chết vụt qua. Đừng bỏ em anh Lai - Cô hổn hển cầu xin, lấy cả người đè lên anh, quên cả vết thương đang liền miệng, ghì đầu anh vào ngực mình, bàn tay nắm bàn tay, mang hết tâm lực sưởi ấm cơ thể anh.

Không hiểu vì tác động của thuốc hay do hơi ấm từ cơ thể người con gái, một lúc sau Lai nằm im, thi thoảng rên khe khẽ, cơn nguy kịch đã qua. Mừng quá, Hoa áp mặt lên má anh ru ri nhè nhẹ, thích thú nhận vào mình cảm giác ram ráp từ những sợi râu mọc trên bờ cằm người đàn ông. Cảm giác ấy đánh thức tính dục, chút rạo rực râm ran trỗi dậy trong cơ thể. Cô lật người anh ôm riết vào mình, lấy tay vuốt những sợi tóc rũ trên trán. Mặt cô kề sát mặt anh, hơi thở đàn ông nồng nồng mơn man lên da mặt từng đợt nhè nhẹ, quyến rũ, kích ứng nỗi khát khao thèm muốn.. Giữa chiều hẹp hai cơ thể, khoảng cách mong manh, chút va chạm nhẹ nhàng run rẩy, sự cọ xát khe khẽ kích ứng cho cô cảm nhận nỗi thèm muốn khát khao. Cô rướn người theo bản năng, bàn tay vô thức lùa qua áo anh ghì miết..

Bỗng Lai cựa mình, cô vội rời anh ra ngồi dậy, xấu hổ vì những ý nghĩ vừa xuất hiện trong đầu. Mắt Lai khẽ động đậy. Anh tỉnh rồi à? Gớm, anh làm em sợ hết hồn - Cô nói khỏa lấp sự ngượng ngùng. Lai chớp chớp nhìn cô, thều thào: Khát quá, còn nước không em? Còn - Hoa sốt sắng - Anh chờ em một chút. Hoa mở túi cóc, lấy bi đông nước mang tới. Lai gượng ngồi dậy. Hoa chạy lại đỡ vai anh: Từ từ anh, để em cầm cho mà uống. Lai nhấp từng ngụm, đỡ khát, anh nói: Cảm ơn em. Hoa nút nắp bi đông lại: Đừng nói vậy anh. Thôi, bây giờ anh nằm nghỉ, em sẽ chuẩn bị đồ ăn. Lai chống tay ngồi lên: Anh đỡ rồi, để anh làm cùng em. Hoa ấn anh nằm xuống, làm mặt giận: Em nói anh nghe đi. Nằm xuống, cố ngủ thêm một chút nữa cho khoẻ hẳn. Bất chợt Lai nắm tay cô kéo nhẹ về phía anh. Hoa nhìn anh: Sao anh? Lai không đáp, cứ nhìn cô đăm đắm, với ánh mắt thật lạ. Từ đáy mắt ánh lên sự rung động chan chứa yêu thương. Giữa khoảng cách mỏng manh, bất chợt hình ảnh Hải hiện lên. Không.. Không được - Hoa tự nhủ. Chút yếu lòng thoáng qua, Hoa rút tay mình ra khỏi tay anh, cố lấy giọng bình thản: Anh phải nghe lời em đấy. Nằm xuống đi anh, khi nào nấu cơm xong em sẽ gọi. Nói rồi cô đứng dậy, cô nghe rõ tiếng thở dài phía sau. Tha tội cho em, Lai ơi. Cô bước đi mà thấy lòng mình day dứt bâng khuâng như vừa đánh rơi mất một thứ gì không rõ nữa.

Hoa mở ba lô. Còn mỗi gói thịt nai khô. Cô nhấm thử, dai quá, người ốm ăn sao nổi. Hoa đứng dậy, đi xuôi về phía dưới, vượt qua trảng đồi thấp, cô nhìn thấy vài ba nóc nhà nằm kề bờ sông. Cô đi về phía ấy, nhưng khi tới nơi cô nhận đó là những căn nhà hoang, mái lá xiêu vẹo, tịnh không một bóng người. Cô lách những bụi cây chui vào nhà mong tìm thấy những gì còn sót lại. Đồ đạc trong nhà còn nguyên nhưng bị mối trùm kín, ụ mối đùn cao như núi. Bới móc một lúc không được gì, cô chui ra, đi về phía bãi sông. Cô nghĩ, không bắt được cá thì mò tôm, ốc mang về nướng. Muốn thế nào cũng phải tìm ra thức ăn cho Lai.

Dòng sông hẹp, nước chảy xiết, Hoa nhìn sông chảy mà nản, chợt cô phát hiện ra một quả dưa trôi lềnh phềnh. Cô thôi ý định mò cua bắt ốc, đi ngược lên phía trên. Quả dưa hấu trôi trên sông mang cho cô niềm hy vọng. Đi một lúc lâu cô tới được những ruộng dưa. Lẫn trong những cây dưa, hàng chục hố cá nhân và ụ súng cho cô biết nơi đây đã xẩy ra chiến sự. Chợt có tiếng động, cô giật mình nằm xuống, một con chó hoang ngậm một khúc xương trắng hếu nhìn cô rên ư ử, đôi mắt vằn vện, dữ dằn, cảnh giác như sợ cô tranh mất mồi. Cô cầm đất ném, con chó buông khúc xương chạy đi, cô đi đến chỗ con chó bỏ xương lại. Đó là khúc xương tay người. Ngay cạnh đấy, một xác người đã rữa, những giẻ xương và chiếc đầu lâu nhe răng trắng ởn. Hãi quá cô ôm mặt rú lên sợ hãi.

Nhưng rồi Hoa định thần lại, đi quanh một vòng, cô không tin vào mắt mình nữa, lẫn trong hàng chục chiếc đầu lâu và xương người chết là những quả dưa mầu xanh bóng lộn phơi dưới ánh mặt trời. Hoa mừng quên cả sợ hãi, cô ngắt hai quả to mang về. Lai đã dậy, anh hỏi: Em kiếm dưa ở đâu đấy? Hoa không dám kể, nhưng lúc bổ dưa cô không ăn. Những gì nhìn thấy khiến cô lợm giọng, và từ đấy cứ mỗi lần nhìn thấy dưa hấu cô lại nôn thốc nôn tháo..

Thương dừng kể, đôi mắt chợt xa xảm.. Thế hai người chia tay nhau ở mô? - Thùy hỏi. Thương đáp: Hai đứa em đến Quảng Trị thì gặp quân ta, và hôm đó cũng đúng vào ngày ký hiệp định đình chiến. Giao em cho quân y hậu phương xong, anh Lai cùng đơn vị hành quân vào phía trong. Mần răng o nỏ đi cùng với eng Lai? - Thùy hỏi. Em muốn đi nhưng không được, khi khám thương những chỗ loét mưng mủ nên quân y yêu cầu phải nằm điều trị. Vậy trước khi đi eng Lai có nói gì với o không? - Thùy hỏi. Không - Thương đáp - Anh ấy ghi địa chỉ đưa cho em rồi ôm lấy em hôn lên trán từ biệt như một người anh. Em biết anh ấy mang lòng yêu nhưng không dám thổ lộ. Mà chị ơi, lúc ấy tình yêu của em đối với Hải lớn lắm, dẫu có nghĩ đến Lai, em đâu dám bội ước câu thề - Chợt Thương đứng dậy thở dài - Nếu biết trước Hải phản bội, chắc em đã trao thân cho Lai trong chiến trường rồi. Thùy hỏi: Hai người sống với nhau ngần ấy năm, mần chi nỏ sinh lấy một đứa con? Ngừng một chút, Thương nói: Vâng, giá chi em có với anh ấy một đứa con - Vẻ mặt Thương buồn rượi, đôi mắt nhìn xa xăm - Chị ơi, em cũng muốn lắm chứ. Mẹ mất, bị người yêu phụ bạc, em tìm đến Lai mong bù đắp cho nhau. Nhưng số phận chẳng chiều em. Có những đêm Lai như phát rồ, ôm lấy em, vần vã, cào cấu, gắng tìm trong tình yêu chút ham muốn của thể xác. Em thương anh ấy lắm, nhưng cũng chẳng biết làm sao. Bất lực, anh ôm mặt khóc tu tu..

Thương ngừng kể, ngồi nhỏm dậy, búi lại tóc. Trong ánh sáng mờ của căn hầm, bóng Thương đổ lên vách, chiếc bóng lay động, gầy, mảnh, yếu ớt. Đột nhiên Thùy kéo Thương vào lòng ghì riết, vỗ về, những giọt nước mắt từ khoé mắt chị chảy xuống ướt đầm vai áo Thương. Thùy nghẹn ngào: Mần răng mà đời em khổ quá! Thương úp vào lòng chị giọng lả lớt như người mộng du:

- Chị có biết không. Suốt những năm tháng đã qua, trong trái tim em luôn có hình ảnh hai người đàn ông. Nếu Hải hiện lên với những kỷ niệm đẹp đẽ xen lẫn nỗi cay đắng, hờn giận. Thì Lai hiện về trong em với cả một đoạn đời bi tráng, hào hùng lẫn niềm thương tiếc. Cả hai người len vào đời em, đều để lại cho em tình yêu vô hạn cùng nỗi đau tột cùng. Và rồi họ bỏ em đi theo từng cách. Sự cách xa và biệt ly trớ trêu, biến em thành kẻ khác, chai sạn với người đời, lãnh cảm với tất cả. Ngày, đêm, ngoài công việc, em sống với một tình yêu vô vọng đang tồn tại mà như đã chết; còn tình yêu kia chỉ là một khoảng lặng với lời trân trối. Trong tột cùng bĩ quẫn, sau khi Lai ra đi, em gom nhặt những sinh linh què quặt, thiểu não, với bước chân mệt mỏi tựa nép vào nhau, như những dây leo, quấn quýt, chằng chịt, ứa nhựa truyền cho nhau, nhoi nhóp để sống.
 
283 ❤︎ Bài viết: 1434 Tìm chủ đề

Chương 35​

20261031-092830-af82a40a37.png


Phần ii -thời gian là thước đo của mọi đổi thay

35


Zuân rút trong túi ra chiếc gương nhỏ soi lại mặt một lần nữa. Khuôn mặt nhỏ, trán ngắn, mái tóc quăn tự nhiên đen nhánh, càng mọc càng miết vào chân tóc. Riêng cái khoản cắt tóc Zuân đỡ tiền, chả thế có lần Zuân để ba tháng liền mới đến hiệu. Sinh viên mà, đỡ khoản nào tốt khoản ấy, trừ ăn, trừ mặc không thể bỏ, còn chi chi hà sự việc phải lo. Tiền nong tiêu pha sẻn so, tính toán chi ly từng tý một, nhưng tựu chung nặng nhất vẫn là chuẩn bị quà sinh nhật. Bọn bạn trong lớp có ý "chừa" Zuân cho hưỏng chế độ "treo", nhưng Zuân không chịu. Gì có thể được, chứ bạn bè cùng học, cả năm có một lần sinh nhật, chí ít Zuân chẳng bao giờ chịu đến dự mà đi tay không.

Zuân nghiêng đầu, trong gương, cánh mũi phồng phạo trương trớ, trông rất khó chịu. Đúng thật! Giá mũi của mình nhỏ hơn một chút thì hay hơn. Mỗi lần soi gương ý nghĩ ấy lại xuất hiện. Bắt đầu từ một lần Đơn Đơn chăm chú nhìn Zuân và bỗng bật lên câu nhận xét: "Sao hai lỗ mũi anh Zuân lại to và sâu thế nhỉ, giá be bé một chút có phải cân đối với khuôn mặt không."

Nói vậy nhưng mỗi khi hôn, Đơn Đơn lại bắt đầu từ cái mũi, cô áp môi vào chỏm mũi Zuân, lấy lưỡi đá đá rồi gại gại. Cảm giác tê tê, nhột nhột lan dần làm Zuân thích thú: "Em chê sao lại hôn vào đấy?" Nghe Zuân cự nự, Đơn Đơn nói: "Em đâu có hôn, em làm thế cho mũi anh bé lại đấy thôi". Đơn Đơn dặn Zuân mỗi tối trước khi ngủ phải lấy tay vuốt một trăm lần "tập thể dục" cho mũi nhỏ lại. Tưởng đùa, ai dè Zuân làm thật. Đến nỗi, mấy hôm đầu bạn cùng học nhìn mũi Zuân đỏ lựng cứ tưởng Zuân bị cảm.

Như mọi chiều cuối tuần, cổng trường thưa thớt người qua lại. Mấy anh chàng xe ôm chuyên đứng hóng khách cũng lảng đi nơi khác. Zuân nhìn chiếc đồng hồ treo trên cửa sảnh giảng đường, đã hơn sáu giờ. Sao hôm nay Đơn Đơn đến muộn thế nhỉ? Theo hẹn đã quá tiếng đồng hồ rồi. Tự nhiên Zuân cảm thấy nóng ruột. Hay xảy ra việc gì? Từ ngày Đơn Đơn lên Hà Nội, chưa bao giờ hẹn mà Đơn Đơn đến muộn. Cứ đúng năm giờ chiều thứ bẩy là có mặt, y như chiếc đồng hồ báo thức. Vậy mà hôm nay.. Biết thế hôm mẹ Thương lên "tắc tế", cho tiền hai đứa mua máy di động thì cứ mua, bây giờ có tiện không.. Nhưng nghĩ đi rồi nghĩ lại, trại nấm Linh Chi giờ đây có khá hơn, nhưng cũng còn nan giải lắm. Công việc kinh doanh mới hình thành, chị Doan năng nổ nhưng còn thiếu kinh nghiệm, chi chi hà sự mọi lo toan đổ đầu vào mẹ. Mỗi thứ một tốn. Mặc dù mẹ Thương mỗi lần gặp vẫn nói: Con học hành vất vả, cần gì cứ nói với mẹ. Zuân biết mẹ Thương không tiếc gì với mình, nhưng anh cố gắng chi tiêu tằn tiện..

Chợt tiếng máy xe quen vọng tới. Đến rồi! Zuân khẽ reo, rồi nấp sau bức phù điêu biểu tượng của trường nhìn ra. Đơn Đơn cho xe giảm tốc độ, mắt nhớn nhác tìm, chiếc xe chạy vòng vào khu ký túc, tiếng ga zìn zìn báo hiệu. Zuân kệ, ai bảo đến muộn bắt người ta phải chờ. Nhưng đến khi thấy Đơn Đơn tắt máy, ngước nhìn về phía cầu thang vẻ lo lắng chờ đợi thì Zuân không chịu được nữa. Zuân rời khỏi bức phù điêu rảo bước về phía Đơn Đơn đang bần thần, Zuân đưa bàn tay hai ngón che lên miệng gọi: Đơn Đơn ơi, Zuân ở đây cơ mà!

Đơn Đơn quay lại, mặt tũn lại làm vẻ giận: Đã muộn còn trêu em. Em đến chậm không xin lỗi lại còn trách anh - Zuân chun mũi nói lại. Tắc đường. - Đơn Đơn giải thích - Có vụ tai nạn giao thông, em phải chờ cảnh sát đo đường xong mới đi được. Thôi, hòa nhé? - Zuân giơ tay lên. Đồng ý! Đơn Đơn đáp, đập tay mình vào bàn tay hai ngón của Zuân.

- Mẹ Thương dặn em phải chăm sóc anh - Đơn Đơn nói. Anh làm sao mà mẹ bảo phải chăm sóc? - Zuân hỏi khi Đơn Đơn cho xe lượn ra khỏi cổng trường. Đơn Đơn nhún vai: Mẹ bảo: Con xem thằng Zuân ăn uống ra sao mà lần này lên mẹ trông nó gầy, mặt tóp lại như hai ngón tay chéo. Em bịa! Mẹ Thương chẳng bao giờ nói thế cả! - Zuân kêu to, người ngọ nguậy khiến tay lái Đơn Đơn lạng di. Em xin thề! - Đơn Đơn giơ tay lên rồi rụt lại thật nhanh, cho xe lách, vượt qua một chiếc ô tô, cô ca cẩm - Quãng đường này chiều cuối tuần nào cũng bị tắc, biết thế này em rẽ sang đường Khuất Duy Tiến có phải đỡ không.

Phải công nhận Đơn Đơn nhanh thuộc đường. Zuân ở Hà Nội ba năm rồi mà nhiều phố anh không biết Nhưng Đơn Đơn mới lên vài tháng mà nói đến chỗ nào cô cũng biết. Nghĩ vậy, Zuân nói: Em cứ y như người Hà Nội gốc ấy! Đơn Đơn cho xe dừng lại trước vạch đường, tắt máy, tay vỗ vỗ vào cốp xe: Nhờ ơn tấm bản đồ anh mua cho em và con xe này đấy. Những lúc rỗi rãi em chạy lòng vòng khắp Hà Nội tìm hiểu. Nếu không em cũng xin bó tay. Zuân cười: Thế mà anh chưa được trả công đâu nhé! Đơn Đơn dí dủm: Chờ em thì còn lâu. Zuân bấm nhẹ vào sườn cô: Anh cho nợ. Đơn Đơn khẽ kêu: Ấy, buồn em, anh! Zuân rụt tay lại: Nhưng khi trả phải nhớ trả cả gốc lẫn lãi đấy! Đơn Đơn mỉm cười không đáp, phía trước dòng người chuyển động, cô nổ máy cho xe từ từ lách lên.

Giữa ngã tư, đám người và xe cộ đi trên đường ùn lại, ba cảnh sát, tay cầm dùi cui, mặt nổi gân đỏ, phồng má thổi "Toét! Toét! Toét!.. Tiếng còi chìm vào thanh âm hỗn tạp, ồn ã. Một tay cảnh sát trẻ, mặt hồng, mịn như da con gái, cầm dùi cui đập vào thành xe của Đơn Đơn: Từ từ, vội đi đâu mà cứ lách bừa lên? Xe của chị là xe ưu tiên mà! - Đơn Đơn đáp. Tay cảnh sát trẻ liếc nhìn Đơn Đơn như muốn xác định tuổi của đối tượng rồi lại nhìn Zuân, đang định nói một câu gì đó, chợt nhận ra người đằng sau cũng là một kẻ dị hình, liền thôi, anh ta vung dùi cui đập vào cửa chiếc ô tô bốn chỗ mầu đen đang tìm cách lách lên: Dừng lại, dừng lại!

Em quen anh ta sao mà ăn nói bặm trợn vậy? - Zuân hỏi. Đơn Đơn nói: Hôm nào anh ta chẳng rãi mặt ra ở đây, nhìn mãi cũng thấy ớn. Mà, giả dụ em quen anh ta thì sao, anh không thích à? Zuân không đáp, lấy ngón tay chọc nhẹ vào hông cô.

Phải đợi đến hơn nửa tiếng đồng hồ hai người mới vượt được ngã tư Cầu Mới. Đơn Đơn cho xe rẽ về đường Láng Hạ. Mùi hôi nồng nặc từ sông Tô Lịch bay lên. Tên thì hay, còn nước sông bẩn kinh khủng - Zuân nghĩ - Ngày xưa khi chưa biết, trong giờ học địa lý, cô giáo kể lai lịch về con sông này khiến cho Zuân và mọi người trong lớp mê tơi, mong lớn thật nhanh, học thật giỏi để được tới Hà Nội mà ngắm sông. Đến khi lần đầu tiên mẹ Thương đưa Zuân lên Hà Nội thi đại học. Nhìn lòng sông hẹp, nước đọng, đen ngòm, hôi hám, rác bẩn trôi lềnh phềnh, Zuân hỏi: Thế mà những người ở đây cũng chịu được hả mẹ? Thế con bảo họ đi đâu được? - Mẹ Thương trả lời - Bẩn thỉu, hôi hám thế nhưng bán cả cái trại nấm Linh Chi của mẹ con mình đi cũng không mua nổi một ngôi nhà ở cạnh bờ sông đâu con ạ! Con thì con thèm vào - Zuân bĩu môi, lấy hai ngón đưa lên bịt mũi - Học xong mẹ xin cho con về Ninh Hải. Thương nhìn Zuân: Đấy là con chưa quen thôi, biết đâu đến một lúc nào đấy con lại thay đổi cách nghĩ.

Zuân chẳng thèm. Trại Linh Chi nằm trên một khu đất khá rộng. Cạnh con đường thành phố vừa mở rộng thành đường hai chiều. Hai dãy nhà tạo thành chữ U nằm sát đường, có hàng rào trồng rau mồng tơi leo cách ngăn khu trại với thế giới bên ngoài. Tính đường chim bay ra tới bờ biển chưa đầy ba cây số, tuy có hơi xa trung tâm thành phố Ninh Hải một chút nhưng suốt ngày tràn đầy nắng và gió. Trừ kỳ biển động, còn thường ngày hương vị mặn mòi từ đại đương thổi về lồng lộng, không khí trong lành. Phía đáy chữ U là khu đầm thả cá, trên bờ là dãy nhà trồng nấm rồi đến ngôi nhà niệm Phật của bác Thùy. Cạnh đấy có khu đất trồng rau. Mẹ Thương thường nói: Khu đất này mẹ để đành, bây giờ trồng rau, khi có đứa nào có gia đình mẹ sẽ xây thành nhà ở, chia cho mỗi đứa một khoảnh.

Nhớ hồi Zuân còn nhỏ, xung quanh chưa rào giậu, bọn trộm tranh ăn với cả những kẻ tàn tật. Bọn chúng ngỡ trại Linh Chi được hưởng bổng lộc của xã hội, nên chẳng nề hà gì, đêm đêm mò vào nẫng đi đủ thứ, dùng kích điện bắt trộm cá. Sáng ra, những con cá chết lềnh phềnh nổi trên mặt nước trông xót cả ruột.

Mẹ Thương chẳng biết làm thế nào, chị Doan hiến kế: Làm chòi canh mẹ ạ. Đúng thì đúng thật rồi, nhưng làm chòi xong thì ai canh? Mắc điện, để công tắc ở trong nhà, có động thì bật - Chị Doan bổ sung vào kế hoạch. Thế là lại tốn một ít kinh phí. Được một thòi gian, bọn trộm cá biết tỏng, tiếp tục mò vào. Nuôi chó! - Chị Doan lại vạch thêm phương án. Nghe có lý. Nhưng nuôi chó béc giê thì đào đâu ra tiền. Mẹ Thương vào xóm mua một đàn chó ta. Phải cái, chó ta khôn thì khôn thật nhưng nhát, chuyên sủa hóng. Thế là đêm đến bọn trộm rập rình gây động cho chó sủa mỏi mồm, nhay nhải mãi, chán, nằm ngáp vặt rồi mới vác đồ nghề lội xuống đầm.

Cực chẳng đã, mẹ Thương nghĩ tới đàn ông. Những người đàn ông tới làm công cho trại thì nhiều, nhưng người đàn ông nào mới là chuyện cần bàn. Mẹ Thương lấy giấy bút hí hoáy viết một loạt tên những người đàn ông theo thứ tự a, b, c để" xét duyệt ". Sau bao lần gạch, xóa, mẹ Thương gạch đậm chân hai cái tên được lọt vào chung kết: Một vị ở ngay trong xóm còn một vị ở cách trại ba cây số, mỗi người đều có những ưu, khuyết riêng. Đời nay làm gì có người hoàn chỉnh mà mong, mẹ Thương dùng phép so sánh, sử dụng phương pháp bó đũa chọn cột cờ. Xem nào, vị này chịu khó, mỗi lần nghe Thương ới, đến ngay, nhưng phải cái hay uống rượu, tửu nhập ngôn xuất, ca vọng cổ tối ngày. Còn vị kia, chịu khó, tốt tính, hay lam hay làm, hơn nữa không rượu, không trà, không thuốc nhưng phải cái vợ hay ghen.

Chị Doan bàn: Mẹ đến nhà gặp cả hai vợ chồng bác ấy, trình bày hoàn cảnh ở trại mình xem ý họ thế nào?

Mẹ Thương theo ý, đến thật. Bà vợ ngồi nghe vừa săm soi mẹ Thương, cái nhìn cảnh giác của người đàn bà có máu Hoạn Thư. Trông mẹ Thương xinh đẹp thế thì người đàn ông nào không xiêu lòng và người vợ nào chẳng ngần ngại. Tuy đã cuối" u bốn "rồi nhưng mẹ Thương còn duyên lắm! Mặt tròn, da trắng, mắt một mí, tinh cầu lấp láy, nhanh nhạy, thoạt nhìn trông mẹ Thương dáng dấp những người phụ nữ Hoa kiều buôn bán ở phố Trung Quốc.

Nhưng thật bất ngờ, người đàn bà nghe mẹ Thương trình bày xong, phấn khởi ra mặt: Người ta cứ đổ tiếng ác cho em, chứ thực ra tính em làm gì xấu đến vậy. Thôi, chị cứ cho nhà em ra công tác ở trại nhờ chị và tập thể quản lý cho mẹ con em. Anh ấy có gì lớ xớ chị cứ dùng phép công mà trị. Chao ôi, bà ta cứ tưởng trại Linh Chi là của nhà nước và mẹ Thương là giám đốc. Nhưng không sao, cái quý là bà ta đồng ý cho chồng đến giúp trại là được. Từ khi có người đàn ông làm nhiệm vụ bảo vệ, đêm đêm tuần tra, trại không còn tình trạng mất trộm cá và những thứ lặt vặt nữa..

Nhiều lúc Zuân tự nghĩ: Nếu không gặp bố Lai và mẹ Thương, thì không hiểu cuộc đời mình sẽ ra sao. Những gì thuộc về quá khứ chỉ còn rớt lại trong trí nhớ của một đứa trẻ bị bỏ rơi giữa chợ. Tháo địu đặt nó xuống, mẹ nó đưa cho gói kẹo bột, dặn: Con ở đây chờ mẹ. Nó ngồi trên vỉa hè, nhai kẹo chờ mẹ về. Cho tới lúc trời tối. Khu chợ vắng tanh người, chỉ còn những con chó đi hoang kiếm thức ăn thừa chạy quanh bên nó, thi thoảng nhe răng gầm gừ nhìn nó. Chờ mãi, chờ mãi, rồi nó linh cảm một điều gì khủng khiếp đã xảy ra. Nó khiếp đảm, thấy mình bơ vơ, lạc lõng, sợ hãi gào kêu gọi mẹ. Nhưng đáp lại nó là đêm tối và những tiếng tru tréo của đàn chó tranh ăn. Cho tới khi có một bàn tay nâng nó lên và giọng một người đàn ông an ủi: Tội nghiệp, nín đi cháu, về với chú. Nó mừng rỡ ôm chặt lấy người đàn ông..

- Này, anh đang nghĩ gì đấy? - Đơn Đơn lấy cùi chỏ hích vào sườn khiến Zuân đau điếng. Không, anh nghĩ gì đâu! - Zuân chối. Anh dối em - Đơn Đơn nói - Hay có cô sinh viên nào bắt mất hồn rồi? Zuân tỳ cằm lên vai cô: Người ngợm như anh thì có ma nào ngó ngàng đến. A, anh ví em là ma nhé! - Đơn Đơn kêu to. Zuân áp mặt vào lưng cô day day: Em là chúa tưởng tượng. Quả là anh có nghĩ, nhưng đấy là nghĩ đến trại Linh Chi của mình. Anh nghĩ sao? - Đơn Đơn hỏi. Zuân ghé vào tai cô, nói nhỏ: Anh muốn thời gian trôi thật nhanh rồi xin về Ninh Hải đi làm để giúp đỡ mẹ Thương. Dào ơi! - Đơn Đơn vừa nói vừa lắc đầu khiến đôi bím tóc cọ vào má Zuân - Học chưa ra trường mà đã tính với toán. Mẹ còn tốn công, tốn của với anh nhiều! Zuân áp miệng sát tai cô thì thầm: Đơn Đơn ơi, anh ước gì từ giờ đến lúc anh ra trường Đơn Đơn cứ ở trên này thì tốt biết bao. Hay là em bảo mẹ Thương cho em học xong ở lại luôn? Không được đâu anh - Đơn Đơn nói - Câu lạc bộ Hàn Giang Ca Quán bỏ tiền cho em đi học về phục vụ cho họ, chứ không phải cho em lên đây để gần anh nhé! Thôi đi ông tướng, mơ hão vừa vừa chứ! Nói rồi Đơn Đơn cho xe giảm tốc độ quành vào một ngõ nhỏ, sâu hút.

Chiếc xe lạch bạch, ì ạch bò, lượn quanh những góc khuất và đường vòng phi tiêu chuẩn, thi thoảng phải dừng lại, tắt đèn tránh người đi ngược chiều. Hà Nội với hà ngoại - Đơn Đơn ca cẩm - Phố xá thế này thì biết bao giờ mới lên được chủ nghĩa xã hội? Thủ đô xanh, sạch - đẹp đấy! Tiêu chuẩn quốc tế đấy - Zuân cười, uốn lưỡi, kéo dài giọng cố tình nói ngọng, bàn tay hai ngón bíu chặt lấy thành xe - Này.. Này.. Chú ý qua chỗ rãnh nước đấy! Đáp lại lời Zuân là cú xóc nảy bật lên khiến chiếc xe lật nghiêng về một phía, tay lái Đơn Đơn chao đảo, cô lấy lại thăng bằng: Xin lỗi, em quên - Rồi cự nự - Không biết đến bao giờ họ mới" giải phóng "nốt đoạn này? Zuân sửa lại tư thế ngồi: Hôm nọ anh nghe bác Thịnh nói: Đây là phần đường giáp ranh giữa hai phường nên" không ai khóc". Bác ấy còn bảo với anh: Cuối năm nay câu lạc bộ sẽ bỏ tiền ra tu sửa lại, chờ chính quyền phân giải thì lâu lắm! Đơn Đơn đồng tình: Bác Thịnh nói em thấy phải. Sửa lại đường để khách vào nghe hát đỡ khổ.

Xe đi thêm một đoạn nữa thì cùng ngõ, đó là một khu vườn khá rộng, nằm chắn ngang, cây cối um tùm. Đơn Đơn giảm tốc độ, tắt đèn cho xe từ từ đi vào. Ánh sáng tỏa ra từ những ngọn nến đặt dọc lối đi và trong ngôi nhà gỗ cổ nằm giữa khu vườn khiến người vào có cảm giác lung linh, huyền ảo. Đốt nến tốn tiền lắm, đã có ý kiến đề xuất nên thay thắp nến bằng đèn điện, nhưng các phường viên trong Giáo Phường Ca Trù Thăng Long không đồng ý, họ cứ một hai yêu cầu dùng nến trong các buổi hát cho đúng với ngày xưa.
 
283 ❤︎ Bài viết: 1434 Tìm chủ đề

Chương 36​


20261031-092929-720f4853e6.png


36

Giáo Phường Ca Trù Thăng Long nằm sâu trong ngõ, lối hẹp, mặt đường lát gạch xi măng, thi thoảng có những đoạn bung vỡ, lầy lội, gồ ghề. Đây là nơi sinh hoạt thường kỳ của những người yêu thích môn hát ả đào. Người cầm đầu Giáo Phường là Trùm Thịnh. Xưa, ông vốn là kép đàn nổi tiếng một thời, tương truyền được thiên hạ liệt vào bậc "thánh đàn" của đất ngàn năm văn vật. Sau hòa bình, tiếng hát ả đào lắng chìm vào quên lãng và bị coi là loại hình nghệ thuật hạ đẳng, chuyên dành cho những kẻ bệnh hoạn, ăn chơi trác táng. Trùm Thịnh cất đàn vào rương cùng những kỷ niệm, mượn nghề xích lô kiếm sống. Nay giới âm nhạc nước nhà đã thay đổi cách nhìn, người ta khẳng định đây là loại hình nghệ thuật tao nhã, thuộc dòng âm nhạc cổ điển mang tính bác học của dân tộc. Nghe đâu ngành văn hóa còn lập phương án đề nghị thế giới công nhận hát ả đào là di sản phi vật thể của nhân loại..

Trùm Thịnh vui lắm, ông bỏ khách xích lô, về nhà mở rương, nâng cây đàn Đáy lên tay. Sống lại rồi đàn ơi! Kép Thịnh ôm đàn vào lòng rưng rưng, bàn tay sần sạn mân mê rờ rẫn, áp má vào thân đàn ray nhẹ, ngón tay lướt trên phím, ba sợi dây mỏng manh rung nhè nhẹ.. Tinh.. Tính.. Tình.. Tiếng đàn thánh thót như tiếng thì thầm to nhỏ.. Thể như tiếng thổn thức của hai người bạn tri kỷ lâu ngày gặp lại, những nếp nhăn trên vầng trán của kép Thịnh giãn ra, đôi mắt ưu tư lấp lánh những kỷ niệm vời xa.. Nào đâu.. Nào đâu cứ vào mùa xuân tới, đêm trước hội quán đình, các phường hát gần xa nô nức kéo nhau về tụ hội. Lời trống, tiếng đàn, câu sênh, nhịp phách thánh thót, ngân nga. Trên sân, ông trùm, các kép tay nâng chén rượu xum vầy; nơi chiếu hát, các ca nương thi nhau ôn câu, luyện tiếng. Và năm nào cũng thế, phường hát ả đào của kép Thịnh đều giật giải cao, tiếng đàn Đáy của kép Thịnh được chọn đứng đầu hàng kép. Tuy phần thưởng chỉ là một tấm lụa Hà Đông, nhưng thanh âm của cây đàn givào lòng người những cung bậc cuộc đời sâu lắng..

Những tưởng đã quên đi, ai ngờ ông trời có mắt, nên sau khi nhà nước khôi phục lại nghề hát Ca Trù, Trùm Thịnh quyết định mở Giáo Phường, mời các nghệ nhân còn lại làm gia sư, mong truyền dạy lại cho thế hệ sau tinh hoa của nghề, truyền thống của dân tộc.

Nghe tiếng xe máy, một vài người ở trong nhà chạy ra.

- Hoan hô, ca nhi Đơn Đơn đến rồi! - Tiếng của những đứa trẻ chờ xem hát reo lên.

Đơn Đơn lái xe vào nơi quy định rồi tắt máy. Một phụ nữ chạy ra: Sao đến muộn vậy hai đứa? Có vụ tai nạn giao thông nên chúng cháu bị tắc đường - Zuân đáp rồi nhẩy xuống. Đơn Đơn đưa cho Zuân chiếc hộp gỗ nhỏ: Anh mang cho em hộp trang điểm vào trước. Người phụ nữ giục: Mau lên Đơn Đơn, các quan viên đến đầy đủ rồi, chờ mỗi em thôi. Vầng, cháu xin lỗi - Đơn Đơn nói - Sao cô không thưa với ông Trùm cứ cho các ca nương khác hát trước đi? Người phụ nữ nói: Tôi có ngọng đâu mà không biết, nhưng ông Trùm nói muộn cũng phải chờ ca nhi Đơn Đơn đến mới được khai mạc - Người phụ nữ ghé vào tai cô thì thầm - Bữa nay có quan viên nước ngoài đến nghe. Đơn Đơn hỏi: Vẫn toán sinh viên người Mỹ hả cô? Ừ - Người phụ nữ đáp.

Trong đầu Đơn Đơn hiện lên hình ảnh người thanh niên Mỹ nói tiếng Việt khá sõi và thường hay lui tới câu lạc bộ. Không hiểu sao Đơn Đơn có cảm tưởng mỗi lần nghe cô hát, đôi mắt của anh ta đau đáu nhìn như muốn hớp hồn mình. Cô liếc về phía khán giả, cái đầu của anh ta cao vổng, óng ánh, xoè rộng như một đóa uất kim hương, nổi bật không lẫn vào đâu được - Ai mời họ đến hả cô? - Vừa hỏi, một tay Đơn Đơn bám lấy ghi đông xe còn tay kia vịn vào yên nâng người ngồi lên thành xe. Người phụ nữ chìa tay cho Đơn Đơn: Tôi nghe ông trùm nói: Đêm nay cậu thanh niên người Mỹ bỏ tiền bao toàn bộ cho câu lạc bộ - Nhác thấy Đơn Đơn cau mặt, người phụ nữ hỏi - Sao, cháu ngại à? Người ta đến càng tốt chứ sao! Nào.. Vịn vào tay cô.. Không - Đơn Đơn từ chối - Cô kệ cháu! Đơn Đơn quay lại lấy đôi guốc để trong cốp xe xỏ vào tay chuồi người xuống.

Bỗng nhiên từ phía sau, có người xô tới gạt người phụ nữ ra:

- Tôi pế, tôi pế..

Sau câu nói là đôi cánh tay luồn vào người Đơn Đơn nhấc bổng lên khiến cô không kịp phản ứng. Và khi nhận ra người bế mình là chàng thanh niên ngoại quốc, Đơn Đơn giãy nảy:

- Buông ra.. Buông ra để tôi tự đi. - Đơn Đơn lấy hai bàn tay xỏ guốc đẩy vào ngực, nghiêng mặt tránh cái miệng phải ra mùi hơi nồng nóng như lửa.

Nhưng hình như gã thanh niên ngoại quốc không để ý đến sự phản ứng của cô gái, hai cánh tay lực lưỡng ghì ép cô vào thật chặt, mặt gã áp sát gần mặt Đơn Đơn, đôi mắt mầu xanh lơ chớp chớp, làn tóc xoăn đỏ quạch rủ trên vầng trán lấm tấm lỗ chân lông, lưỡng quyền cao, sống tinh dài, thon, khoằm, hai cánh mũi nhỏ nhắn, những sợi lông vàng óng như tơ trong lỗ thập thò theo nhịp thở..

Đơn Đơn không chịu, cô lắc người, liên tiếp đập guốc vào mặt, mũi, trán gã. Bị phản ứng, gã thanh niên ngoại quốc ngúc ngoắc đầu né tránh hai cái đế guốc không lấy gì làm sạch sẽ kia rồi cứ thế bế thốc cô đi vào.

Nghe tiếng Đơn Đơn kêu, Zuân quay lại, khó chịu khi thấy gã trai ngoại quốc bế Đơn Đơn trên tay. Đôi bàn chân của cô thò ra khỏi ống quần, nhũn nhẽo, đu đưa trông thật thảm hại. Máu nóng dồn đến, Zuân để hộp trang điểm xuống mặt bàn, quay lại chặn ngang lối đi:

- Bỏ cô ấy xuống!

Gã trai ngoại quốc, đầu lắc, miệng cười, một tay nâng cô gái lên cao còn tay kia xua xua:

- Mừng pế mà.. Mừng pế mà..

- Bỏ ngay cô ấy xuống! - Giọng Zuân dứt khoát.

Nghe tiếng Zuân quát to, mọi người ngồi trong nhà chăm chú nhìn: Trước mắt họ, giữa khăn phòng, hai kẻ đại diện cho hai chủng người đối diện nhau. Một bên cao to lực lưỡng, mắt xanh mũi lõ, quần bò, áo mặc trên người may bằng cả một lá cờ của Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ. Đôi tay nguều ngoào của gã đang quắp một cô gái xinh đẹp như đại bàng cắp công chúa; còn bên kia là chàng trai người Việt, nhỏ bé, dáng thư sinh, cánh tay độc nhất giơ lên, chĩa hai ngón trên bàn tay khiếm khuyết về phía địch thủ.. Từ trước tới nay, chưa có ai bế Đơn Đơn lên tay như thế kia bao giờ. Và nếu đó là một thanh niên người Việt thì còn khả dĩ, nhưng đây lại là một gã người Mỹ. Chính vậy càng làm Zuân khó chịu, mặt hằm hằm, tím lịm, thần sắc cuồng nộ, trông Zuân hầm hè như võ sĩ lâm trận, còn thân hình xiêu lệch sang bên vai không tay như gà chọi sã cánh.

Người phụ nữ lúc nãy chạy vội tới, gàn:

- Thôi, Zuân, có gì đâu! Đừng gây gổ ở đây, họ là khách đến nghe hát mà..

Zuân quắc mắt nhìn người phụ nữ như dội lửa nào mặt, khiến chị ta sợ sệt lùi lại, Zuân chuyển cái nhìn sang đối phương:

- Mày có bỏ cô ấy xuống không thằng khỉ đột kia?

Gã trai ngoại quốc thần người nhìn, rồi chừng như hiểu anh thanh niên người Việt cụt một tay kia đang tức giận, liền liếc xéo sang hai bên tìm đường tháo lui, lanh lẹ, bất ngờ gã quay ngoắt, lách ngang qua hai hàng ghế đi vào bệ biểu diễn nhẹ nhàng đặt cô gái xuống sập hát, giữa người giữ trống chầu và người chơi đàn đáy. Trước khi rời, gã còn bụm môi hôn vào má Đơn Đơn "chút" một cái. Đơn Đơn né mặt tránh, chuồi khỏi, hai tay văng người chui qua gầm ban thờ "đi" về phía phòng trang điểm.

Cả khán phòng ồ rộ, tiếng vỗ tay lẹt đẹt tán dương hành động của gã trai ngoại quốc làm cho Zuân khơ khấc, hụt hẫng, anh ném ánh mắt hận thù theo địch thủ rồi quay lại chỗ để hộp đồ trang điểm cầm lên hậm hực đi về phía hậu trường.

- Chát.. Chát.. Chát..

Tiếng roi gõ vào tang trống đột ngột vang lên, tiếng quan viên xì xào lắng xuống, thanh âm sắc lạnh, trong vắt ném vào không gian từng nhát, từng nhát tiếp đó là lời trống âm âm điểm nhịp:

- Tom.. Tom.. Tom.. Chát!

- Xin mời ca công sửa đàn. - Tiếng người tổ chức vang lên.
 
283 ❤︎ Bài viết: 1434 Tìm chủ đề

Chương 37​


20261031-093016-325cb6cb46.png


37

Thương lên văn phòng, chị mở cửa sổ, trời vừa rạng, sương mù bay bảng lảng, gió từ ngoài lùa vào mang hương vị mặn mòi của biển cả. Lẫn trong gió, vòng vọng từng đợt sóng vỗ bờ và tiếng của hàng phi lao rì rào thổn thức. Chị đưa mắt bao quát. Hai ao nhỏ trước đây, nay đã phá bờ thông với nhau, khiến mặt nước rộng hơn, cây cối trồng ven bờ thả hình xuống làn nước xanh trong. Cạnh đó, những luống rau thẳng đều tăm tắp. Từ nơi chị đứng, nối liền với dãy nhà dành cho bọn trẻ. Phía đối diện là khu trồng nấm và phân xưởng chế biến sản phẩm. Tiếng mõ tụng đều đều từ điện thờ vẳng lại. Chị dang tay, ưỡn ngực hít thở không khí trong lành. Đối với Thương, buổi sáng, đó là chút thời gian ít ỏi, tĩnh lặng cho riêng mình. Chị rời khỏi nơi vừa đứng dạo quanh một vòng, lẩn mẩn sờ mó hết chỗ này chỗ khác. Đã bỏ bao lâu rồi, nhưng cứ mỗi sáng thức dậy, nhìn cảnh vật xung quanh, nghe âm thanh xao động, chị vẫn thấy ngỡ ngàng, không tin được những gì trước mặt thuộc về mình.

Thời gian trôi, có biết bao biến cố xảy ra ở cái trại nấm nhỏ bé này. Nhịp đời ồn ã và cuộc sống của những đứa trẻ, dường như không cho chị một chút thảnh thơi. Công việc và nỗi lo toan, hai người đàn bà côi lẻ và những đứa trẻ tật nguyền. Những đứa trẻ lớn dần lên theo năm tháng. Tuy thế, trong chị vẫn giữ nguyên cảm giác lúc chúng còn nhỏ. Tuổi thơ của bọn trẻ đi qua đời chị, để lại những ấn tượng không quên. Thân phận, đôi mắt, dáng đi, tiếng khóc, nỗi đau, tiếng cười, niềm vui và nỗi vất vả, nhọc nhằn. Dư vọng quá khứ đâu dễ phôi phai dẫu thời gian trôi.

Dưới sân, Bình đã dậy, nó mặc quần đùi, cởi trần, vung tay vung chân một lúc rồi đi về phía nhà trồng nấm. Thằng bé đã trưởng thành thực thụ, nhưng nhu cầu hưởng thụ thì không lớn lên chút nào. Vẫn vậy, búi tó, ăn chay, mặc đồ xám. Ngày hì hụi làm, đêm đến ngồi thiền, mắt nhắm nghiền, tâm trí hướng về nơi nào xa lắc, mà chỉ ở trong đầu nó mới hiểu. Gần đây, chị chợt nhận ra giữa nó và Doan có chuyện khúc kha khúc khích. Ban tối con Doan theo lớp tiếng Anh ở trung tâm thành phố. Mọi khi Thương đưa đi, đón về. Không hiểu hai đứa bàn nhau thế nào, mà thằng Bình, vốn là đứa ít ra ngoài, vậy mà nay giành mẹ cho nó đưa đón Doan. Thấy vậy, chị mừng thầm. "Nồi nào vung ấy", hoàn cảnh của hai đứa vậy, dễ cảm thông, nếu chúng bén duyên nhau thì tốt biết bao.

Ừ, đời mình vậy thôi, lo cho chúng đến đầu đến đũa là hoàn thành. Doan tỏ ra là người có năng lực. Nhớ hồi mới bước vào kinh doanh, sản phẩm chưa có thị trường tiêu thụ. Trong khi Thương mang sản phẩm đi giới thiệu với các đại lý, cửa hàng lớn, cửa hàng nhỏ, chưa biết kết quả ra sao, thì Doan nghĩ ra một kế. Giấu mẹ, lấy thân làm chỗ dựa, lén lên ủy ban gặp Hải xin thư giới thiệu, dắt thằng Thắng theo. Hai đứa, một què, một mù dở, lê lết khắp chốn khắp nơi rao bán Trà Linh Chi. Người đời nhìn, thấy tồi tội, mủi lòng bỏ tiền mua dăm gói làm phúc; đến cơ quan, bước đầu biếu các chú uống thử, sau tỉ tê "gạ" bán, rồi ký hợp đồng hàng tháng, hàng quý. "Năng nhặt chặt bị". Thấy phương sách ấy được, mở chiến dịch "như những cánh chim bay" huy động các em đi bán. Hiệu quả không ngờ. Trà Linh Chi bán chạy như tôm tươi. Dần dần, Doan mở rộng thị trường. Giờ đây, trong Nam, ngoài Bắc, sản phẩm của trại đã được chấp nhận. Nhưng ý Thương còn muốn phát triển thêm. Ngần ấy con người, biết bao điều phải làm và còn tương lai của chúng..

Nghe Thương tâm sự, chị Thùy khuyên: O cứ hay lo xa, lo gần. Mần răng phải vậy cho nhọc thân, "đời cua cua máy, đời cáy cáy đào" - Nhưng rồi lại lẩm bẩm - Ừ, kể ra o nghĩ cũng phải. Khi còn cơ hàn, cứ nghĩ gắng kiếm cơm, kiếm gạo nuôi chúng lớn, thể như nuôi chim, đủ lông đủ cánh tự chúng bay, kiếm mồi, khơi tổ. Ai dè, chúng càng lớn, càng phải lo. Mần răng mới hết lo? Quả thật, Thương luôn để mắt đến chúng, lúc nào chị cũng coi chúng còn thơ bé, mà đời biết bao cạm bẫy khôn lường. Người khôn hẳn hoi kia còn có lúc dại, huống chi bọn nửa tỉnh nửa mê. Trong mấy đứa, có Đơn Đơn là tinh ranh nhất. Vừa thông minh vừa có tài ca hát. Mỗi lần lên Hà Nội, nghe ông Trùm Thịnh khen, chị tự hào về nó. Thằng Zuân sướng ra mặt. Không hiểu hai đứa thề non, hẹn biển gì chưa, mà thấy chúng như đôi chim quấn quýt.

- Chị Thùy này - Thương nói - Giả dụ chúng nó lấy nhau thì sao nhỉ? Thùy nhìn Thương lạ lùng: Mần răng? Nếu chúng báo cáo thì cưới cho chúng. "Trai khôn lấy vợ, gái lớn gả chồng" Có chi mô mà bữa ni o nghĩ lẩn thẩn vậy? Đành là thế - Thương thở dài - Cái em nghĩ không phải là chúng sống với nhau. Mà em nghĩ đến hậu quả. Liệu những đứa con của chúng ra đời có làm sao không? Em nghe nói chất độc này ngấm vào người, đời đời, kiếp kiếp còn để lại di chứng. Chị Thùy ngẩn người, ừ nhỉ. Nếu con cái bọn chúng cũng bị như vậy thì mần răng? Trong óc chị bật ra những hình ảnh quái thai, dị dạng. Thà đừng có con thì thôi. Đẻ ra những đứa trẻ như Minh Loan, Thúy Quỳnh, ăn đâu nằm đấy, hoặc thiếu chân, hụt tay, sứt môi, lồi rốn thì đẻ mần chi. Vậy o tính mần răng, cản chúng đừng yêu nhau ư? - Chị Thùy hỏi.

Thương chống cằm tựa vào lan can không đáp. Ngăn cho chúng không yêu nhau, điều đó đâu có thể. Tình yêu là thuộc tính sẵn trong mỗi con người khi sinh ra. Ai có quyền tước bỏ niềm yêu thương ấy? Như mình thôi, khi yêu, những rào cản của cuộc đời đâu ngăn nổi trái tim. Bạo liệt, cuồng khát, bất cần, liều lĩnh. Thương hiểu điều đó hơn ai hết. Ngay như đến bây giờ, chị vẫn không sao xóa nhòa được mối tình với Hải. Như nét chạm sâu, khắc vào lòng. Dẫu biết rằng Hải đã có phương trời riêng, nhưng mỗi lúc cô đơn, chị lại vùi đầu vào kỷ niệm. Thà Hải thật phũ phàng, coi mối tình đã qua như cơn gió thoảng. Nhưng ngày anh càng lấn tới, càng quan tâm. Những thành quả của trại nấm Linh Chi đều có bàn tay và công sức của anh giúp đỡ.

Chị đã từng nói với tôi chị là người có lòng biết ơn. - Thương nhớ Thành nói với Thương trong một lần hai người gặp nhau. Nhưng cái gì cũng có giới hạn chứ! - Thương cãi lại. Thành nói: Tôi đâu có nói chị phải vượt qua giới hạn. Nhưng con người chẳng lẽ không thể tha thứ? Vậy anh muốn gì ở tôi? - Thương nhìn thẳng vào mắt Thành - Đến gặp anh ta để giãi bầy, thanh minh, khóc lóc, van vỉ hay quỵ luỵ, cảm ơn? Thành tránh cái nhìn, giọng nhỏ nhẹ - Những điều đó có cần thiết lắm không hả chị Thương? Tôi chỉ muốn giảm áp lực quan hệ giữa hai người. Ngần ấy thời gian đã trôi qua, vì sao chị luôn giữ khoảng cách với anh Hải? Chị có biết xử sự như vậy dễ biến mình thành kẻ vô tình. Những gì anh Hải làm cho trại, phải chăng không đủ cho chị hiểu, sự sám hối và lòng chân thành. Ngược lại, sự ghẻ lạnh, xa lánh vô tình của chị, đâu phải là điều cần thiết trong quan hệ tình người. Theo tôi, hai người nên gặp nhau một lần để giải tỏa những vướng mắc.. Thành còn nói nhiều, nhưng tất cả đều hướng tới mối quan hệ của hai người. Và anh ta làm thật.

Thành bố trí cho hai người gặp nhau ở một nhà nghỉ gần bãi tắm Ninh Thủy. Anh ngồi một lát rồi tế nhị lấy lý do vắng mặt để hai người nói chuyện. Hôm ấy, trời thật đẹp, gió biển thổi lồng lộng, từng làn sóng nhấp nhô, nhấp nhô ào vào bờ tung bọt trắng phau. Bãi biển vào mùa thơ mộng, hàng trăm chiếc ô xoè tán như nấm mọc; một vài người nằm dài sưởi nắng, những hạt cát thuỷ tinh lấp lánh trên làn da nhám nắng. Ven bờ, từng đôi trai gái tay nắm tay tung tẩy, nhảy nhót, dùng chân té nước vào nhau; một nhóm trẻ con chia nhau đá bóng, và những cánh diều phơ phất trên cao. Xa xa, những dãy núi nhấp nhô mọc lên từ biển cả, kết dài như bức tường thành nhuộm mầu tím ngắt.

Hai người ngồi lặng im. Thương cúi xuống, ngượng nghịu, tay kết vào nhau bẻ ngón. Thời gian nhỏ giọt trong tĩnh lặng. Chiếc đồng hồ treo trên tường thong thả điểm từng khắc. Gian phòng thoảng hương sen. Thứ hương gợi nhớ lần đầu tiên chị uống. Ngôi nhà nhỏ ven hồ, những búp sen hồng rực. Con thuyền nhỏ chở hai người yêu nhau trôi vào thế giới tràn đầy tình yêu cùng ước mơ say đắm.. Vậy mà.. Vậy mà, vẫn con người kia, khoảng cách thật gần mà nay sao xa lắc. Chị nghe tiếng nấc nghẹn dứt quãng của anh giữa tiếng thở dài sâu lắng. Thật nặng nề, nhức nhối..

Chợt một cơn gió ùa dến, bức màn gió bay tung, hất chiếc bình cắm hoa nghiêng đổ. Hai người cùng giơ tay đỡ. Bàn tay nắm phải bàn tay. Hơi ấm từ nơi anh truyền sang cho chị một cảm giác lạ lùng. Bất giấc chị ngẩng lên, bắt gặp cái nhìn đăm đắm, chan chứa yêu thương. Chị vội cúi xuống, mặt đỏ lựng, lòng bối rối. Chị muốn rút tay ra, nhưng sợ chiếc bình rơi vỡ. Hai bàn tay cùng nâng chiếc bình đứng thẳng, những đóa hoa rung rinh và hơi ấm từ bàn tay anh truyền sang nóng hổi.

Chị thấy mình bải hoải, cạn hết sức lực, toàn thân run rẩy, muốn rút tay ra nhưng không cưỡng được, và chị vẫn để nguyên tay mình trong tay anh. Nhưng khi anh ấp bàn tay còn lại lên tay chị ve vuốt dịu dàng, chị giật mình như người bừng thoát cơn mê. Chị lấy can đảm giật tay ra, khiến đôi tay người đàn ông hụt hẫng. Hoa.. - Anh kêu thảng thốt lên. Chị ngẩng lên, ý thức trở về thực tại, chị định buông ra những lời phản hồi gay gắt. Nhưng khi bắt gặp đôi mắt anh nhìn thăm thẳm, từng vệt thâm quầng vẽ vòng trên khuôn mặt méo xệch, thảm hại, khiến lòng chị mềm lại, tràn dâng nỗi niềm thương cảm. Một giây phút thoáng qua, chị cảm nhận nỗi đau khổ rất thật từ lòng anh toát ra. Chị bặm môi, hai tay bưng lấy mặt. Lát sau chị ngẩng lên.

- Còn gì đâu anh - Chị bật lên lời, giọng lùa qua hơi thở - Hoa của anh chết rồi. Mong anh đừng nhắc nữa.

- Không đâu em. - Anh nói, đôi mắt van vỉ nhìn chị qua những bông cúc mầu tím - Hoa ơi, đừng nói thế. Em có biết anh mong được gặp em thế nào không?

- Để làm gì hả anh? - Chị hỏi.

Anh nhìn chị với đôi mắt khẩn cầu:

- Anh muốn Hoa tha thứ cho anh.

Tha thứ ư? Tiếng lòng Hoa trỗi dậy. Chẳng nhẽ anh đến gặp em là để xin tha thứ? Quá muộn rồi anh. Giới hạn ấy đâu còn. Xin đừng khuấy lên nỗi đau ấy nữa, em van anh. Chị đứng dậy đi ra cửa, vịn tay vào bậu, mắt hướng về những cánh buồm lênh đênh trên biển, giọng đanh cứng:

- Tôi quên anh rồi Hải ạ. Xin anh cứ sống với cuộc đời của mình. Chuyện của tôi và anh. Những gì đã qua, hãy cho qua, tôi không muốn nhắc lại nữa. Và cũng mong anh đừng bao giờ nhắc đến. Làm thế chỉ khổ cho nhau. Giữa chúng ta, chẳng phải đã mỗi người một ngả rồi ư?

- Hoa ơi - Tiếng anh tha thiết - Anh biết, vì anh mà em đã phải chịu khổ cực, thiệt thòi. Mọi tội lỗi từ nơi anh. Em có mắng, có chửi, anh xin nhận. Nhưng mong em đừng xua đuổi anh, đừng xa lánh anh. Nếu có thể làm gì cho em vợi bớt nỗi khổ đau, xin hãy nhận ở anh sự hối lỗi chân thành.

Thương đáp:

- Những gì anh giúp cho trại nấm Linh Chi chẳng đã quá nhiều rồi ư? Anh đâu cần băn khoăn nữa.

- Không đâu Hoa ơi - Anh rên rả - Xin em đừng nói vậy. Những việc anh làm, đâu có thể bù đắp nổi những gì em gánh chịu. Em có biết không, từ ngày gặp lại em, tình yêu trong lòng anh như sống lại. Cho dù những điều đó là hão huyền, ảo vọng, nhưng anh không cho phép mình được quên.

- Vậy bây giờ anh muốn gặp tôi để bù đắp? - Thương hỏi, chị xoay người lại nhìn thẳng vào mắt anh.

Anh tránh ánh mắt như dội lửa của người đàn bà:

- Nếu có thể, xin em dành cho anh một cơ hội..

- Cơ hội - Chị nhại lại, giọng đắng ngắt - Anh định lấy cơ hội nào để bù đắp cho tôi? Tiền bạc hay quyền chức? - Giọng chị chợt mai mỉa - À, tôi quên mất anh là Chủ tịch thành phố, mà đối với một ông Chủ tịch thành phố, điều đó đâu có khó. Nhưng liệu tiền bạc, quyền lực, những thứ vô tri, vô giác ấy lấy lại những gì đã mất không?

- Anh biết mà em, xin em đừng gay gắt thế - Giọng anh lạc đi.

- Không! - Chị lắc đầu - Anh không biết gì hết! Anh định lấy những điều kiện đó làm cơ hội để xoa dịu vết thương lòng tôi mang theo ngần ấy năm ư? Liệu có thể bù đắp nổi không, những gì chúng ta đã trải, cả tuổi xuân, cả ước mơ đăm đắm và những lời thề non, hẹn biển? Còn đây nữa, anh nhìn xem - Không ghìm được cơn phẫn cảm, chị xé toạc cúc áo, để lộ trần khoảng bụng - Anh nhìn di! Anh nhìn đi - Chị thét lên - Anh hãy nhìn kết quả của tình yêu tôi tôn thờ..

Anh lặng đắng như kẻ bị trúng đạn, đờ đẫn nhìn khoang bụng lộ trần. Những vết sẹo chằng chịt, nham nhúa, lồi lõm, sạn sần, đen đúa, tạo thành một bức chân dung khuôn mặt người nhăn nhúm, kì dị. "Khuôn mặt sẹo" nhìn anh với ánh mắt thách thức, đau khổ, tuyệt vọng. Từng lớp sẹo phồng cộn, chồng chéo lên nhau, biểu thị đường thời gian gập ghềnh, khúc khuỷu. Có tiếng vọng đâu đây niệm hoài nỗi đau đớn khủng khiếp; đường đạn và những mảnh bom xé toạc không gian cùng với mầu xanh của nhành cây gãy lìa và những phiến lá non tơ rơi lả tả. Bầu trời ụp xuống, tiếng vỡ thời gian nhoi nhóp trong không gian ám nồng mầu tử địa. Anh nghe tiếng cười lanh lảnh của Thần Chết và âm thanh lưỡi hái vung lên rít rợn trên đầu..

- Anh nhìn rõ chưa? Đây là tất cả những gì anh đã dành cho tôi. Còn đây nữa - Chị hất hàm, nhìn thẳng vào đôi mắt lạc thần của người đàn ông, tay vuốt ngược mái để lộ ra bờ tóc bạc trắng - Anh định lấy cơ hội nào trả lại cho tôi một thời son trẻ và một tình yêu tôi đã nguyện tôn thờ?

Tiếng người đàn bà vang lên khiến anh bừng thức. Có gì như thôi thúc, bàn chân vô định, còn hành động thật chân thành, anh bước tới, đối diện với hình hài kì dị, quỳ xuống, vòng tay ôm lấy, áp khuôn mặt mình vào "khuôn mặt sẹo", đặt lên đó những nụ hôn nồng nàn đầy nước mắt..
 
283 ❤︎ Bài viết: 1434 Tìm chủ đề

Chương 38​


20261031-093112-487690f881.png


38

- Tom.. Tom.. Tom.. Chát.

Nghe trống giục, Zuân nhắc: Kìa em, nhanh lên không khán giả chờ. Đơn Đơn lau vội vết son tì trên mép, quay lại: Anh thấy em thế nào? Giọng Zuân chì chiết: Đẹp rồi! Xinh rồi! Thể nào mà chốc nữa chả được thằng tây mũi lõ bồng bế. Đơn Đơn nhìn Zuân: Anh sao thế, vẫn còn bực à? Zuân tảng lờ như không nghe thấy câu hỏi, nhặt những thứ vương vãi trên mặt bàn cho vào hộp. Người phụ nữ lúc nãy đi vào, hỏi: Xong chưa em? - Chị cúi xuống sửa lại lọn khăn cho Đơn Đơn - Em phải coi canh hát đêm nay là bài thi tốt nghiệp của mình mới được. Vâng! - Đơn Đơn đáp nhưng mắt vẫn để ý tới nét mặt nặng như đeo đá của Zuân - Người đâu đến lạ! - Cô nghĩ - Có phải lỗi tại em đâu. Ai biết được thằng cha ngoại quốc ấy lại bạo thế, thốc cái nâng bổng lên khiến chẳng hiểu ra làm sao cả. Thế mà cũng tức.. Không nói không rằng, Đơn Đơn co tay văng người "đi" ra.

- Tom.. Tom.. Tom.. Tom.. Tom.. Tom.. Tom.

Bẩy lời trống mở. Đơn Đơn sửa lại tư thế ngồi, lấy tay kéo đôi chân vô cảm gọn vào, ý tứ phủ vạt áo che lên. Tưng.. Tưng.. Cách.. Cách.. Cách.. Tiếng so đàn, thử sênh, dạo phách rộn ràng. Cả năm gian nhà gỗ sơn son thếp vàng của ông Trùm Thịnh sáng trưng, những chiếc đèn hình lục giác, hình cầu treo trong nhà tòa ánh sáng rực rỡ, xung quanh ngợp người là người.

Nhiều tiếng xuýt xoa khi Đon Đơn xuất hiện. Cô ngồi khoanh chân, thân hình thiếu nữ tròn trịa khuất sau tà áo tím, lọn khăn vấn mầu lam đè nhẹ lên mái tóc mượt uốn bồng thành mái trên vầng trán cao thanh khiết, khoé mắt dài, hàng mi cong, lông mày kẻ hình cánh phượng, tôn khuôn mặt hây hồng, đài các, kiêu sa..

- Nhi ca Đơn Đơn mà lành lặn nhỉ, dễ có thể đi thi hoa hậu được đấy! Đẹp ơi là đẹp.. - Có tiếng ai giọng tiếc nuối.

Một ca nương chững tuổi, mặc theo lối ca kỹ xưa, nhẹ gót sen hồng, vén tà áo dài nghiêng mình thưa gửi:

- Giáo Phường Thăng Long chúng tôi xin có lời chào các quan khách, xin đa tạ tấm lòng của các quan khách đã có lòng hạ cố. Để bắt đầu chương trình đêm nay, xin kính mời các quý vị thưởng thức màn chào do ca nhi Đơn Đơn trình bầy.

- Tom.. Tom.. Tom..

- Tình tang.. Tính.. Tang.. Tang tính.. Tang tình..

Sau nhịp trống chầu tiếng đàn ngân lên thánh thót, đầu Đơn Đơn khẽ đung đưa, ánh mắt sắc như dao cau đảo về hai phía rồi cất tiếng, thanh âm buông cao vút lảnh lót mà khuôn mặt cô vẫn tươi như hoa, tịnh không một chút biến sắc, chỉ nhìn thấy đôi môi mấp máy và nơi cổ phập phồng:

- Mấy khi khách đến chơi nhà.

Đốt than quạt nước pha trà mời người xơi

Trà này ngon lắm người ơi

Mời người xơi một chén cho em vui lòng..

Từ trong hậu trường, tám tân nữ mặc y phục thời Lý tha thướt tiến ra, tuổi vừa đôi tám, mặt đẹp như trăng rằm, đầu đội vành hoa đỏ, mắt phượng mày ngài, váy áo sặc sỡ, hài cong mũi én, bốn cô nâng bình trà, bốn cô bưng khay chén, lượn theo tiếng hát. Khán giả vỗ tay tán thưởng.

- Chát - Người cầm chịch vung roi vỗ vào tang trống, tiếp đó đập vào lòng chiêng - Bi.. Li..

Tám tân nữ chia ra cứ hai người một tốp, kẻ ấm người chén lần lượt tới từng hàng ghế rót nước mời quan khách.

Một quan khách trung tuổi, mặc quần áo lịch sự, tay cầm phong bì in hình chiếc máy bay của hãng hàng không Việt Nam từ hàng ghế đầu bước ra, ông ta đi tới trước mặt Đơn Đơn trịnh trọng bỏ vào chiếc đĩa phủ tấm vải đỏ để trước mặt cô. Đơn Đơn nghiêng đầu, mắt cười, đôi môi hé mở, khuôn ngài cảm kích.

Tách.. Tách.. Tách.. Tách tác tách.. Tách tác tách.. Nhịp phách chạy giòn tan báo hiệu mời kép đàn chuyển điệu còn miệng Đơn Đơn buông lời nhả ý:

- Cảm ơn người đã cho quà

Xin dâng chén ngọc gọi là tình thân..

Lời hát ngẫu hứng hòa nhịp cùng tiếng đàn khiến khấn giả ồ lên vỗ tay. Liền đó, hai tân nữ thướt tha nhẹ nhàng lướt tới, kẻ rót người dâng mời quan viên thưởng trà. Người đàn ông đón chén nước vụm tay quay lại phía khán giả, cúi đầu đáp lễ rồi đi về chỗ ngồi.

Trong đám người đứng xem có tiếng bình luận:

- Trước đây bỏ thẻ người ta dùng phong bao bằng giấy hồng điều cơ! Ai lại cho vào phong bì thế kia, thô quá!

- Dào ơi.. - Người đàn bà đứng cạnh cự nự lại - Thời mới thì cung cách cũng phải đổi mới chứ! Bỏ thẻ thế nào chẳng được, có lần tôi còn thấy có người trần sì bỏ tiền vào thì sao?

- Thôi, - Người đàn ông đứng gần càu nhàu - Hai bà có im đi không, bỏ thế nào chả được, miễn thật là tiền chứ đừng bỏ giấy lộn vào đấy là được.

- Đã biết thưởng Ca Trù ai lại làm thế!

- Biết thế nào duợc. Thời đại ma nhiều hơn người.

- Có im đi để người ta nghe không? Nghe Ca Trù như các vị thì nên ở nhà. - Một bà luống tuổi, miệng nhai trầu bỏm bẻm nói.

- Ơ kìa.. - Có tiếng reo thảng thốt - Thằng tây ba lô lúc nãy bế nhi ca Đơn Đơn lên bỏ thẻ kìa.. Ối chà chà, những một tờ xanh, Giáo Phường Thăng Long hôm nay vớ to!

Tất cả nhìn theo hướng tay chỉ của người vừa nói. Chàng thanh niên người Mỹ cao lớn, tay cầm tờ một trăm đô la, từ dưới lách qua những hàng ghế đi lên. Tà áo rộng thùng thình, những ngôi sao in trên tấm áo nhảy nhót phấp phới trông như lá cờ Mỹ di động.

Chuyện người ngoại quốc xuất hiện bây giờ ở nước ta không có gì lạ. Chính sách mở cửa cho khách tứ phương vào du lịch, thu hút nguồn ngoại tệ, nhằm nâng cao nền kinh tế đồng thời quảng bá chế độ tự do dân chủ là điều tất nhiên. Nhưng việc Giáo Phường Ca Trù Thăng Long nằm trong tận cùng ngõ ngách có một chàng trai ngoại quốc vào nghe là điều rất lạ. Hơn nữa, anh ta bỏ thẻ những một trăm đô la. Số tiền đó, nếu là khách đến nghe bình thường đổi sang tiền Việt có thể bỏ thẻ được hàng chục buổi.

Nhìn chàng thanh niên ngoại quốc đi tới, Đơn Đơn đang hát bỗng ngập ngừng, tay phách gõ chững lại khi đôi mắt của anh ta chăm chăm nhìn cô. Bỗng dưng, cảm giác đôi bàn tay thọc vào người nóng rực và chiếc hôn nồng nàn vội vã làm toàn thân cô nóng ran, rùng mình, ớn nhột..

- Tom.. Tom.. Chát!

Lời trống chầu nhắc đào hát mắc lỗi, Đơn Đơn lấy lại tâm thế, cô giơ lá phách đập đập ra hiệu cho kép đàn chuyển điệu. Chàng trai ngoại quốc tiến tới đặt tờ tiền vào đĩa rồi đi tới trước mặt người đánh trống vừa nói vừa ra hiệu:

- To tôi đắn tống tầu.

Đây lại là sự lạ, quan viên đến thưởng thức hát ả đào giữ trống chầu là chuyện bình thường, nhưng người ngoại quốc mê hát ả đào xưa nay có mấy. Người giữ trống chầu không biết xử lý thế nào liền quay sang nhìn ông trùm hỏi ý. Ông Trùm Thịnh gật đầu ra hiệu cho người đánh trống đứng dậy, nhường chỗ. Ông tiến tới trước mặt chàng thanh niên ngoại quốc, chìa tay mời:

- Xin mời quan viên.

Chàng thanh niên tỏ ý vui mừng, anh ta nắm lấy tay trưởng giáo:

- Thanh kiu, thanh kiu.. Tảm ơn, tảm ơn, nhều.

Chàng thanh niên quay lại phía khán giả chắp tay lễ rồi ngồi xuống:

- Tom.. Tom.. Tom.. Chát!

Nghe lời trống buông, Đơn Đơn hiểu ngay người thanh niên ngoại quốc rất hiểu âm luật, tự nhiên trong lòng cô thú vị, âu cũng là một kỷ niệm. Cô đưa tay dạo phách:

- Tách.. Tách.. Tách..

- Tính.. Tình.. Tình..

Tiếng đàn óng ả đẩy đưa.

Vừa giữ nhịp, Đơn Đơn đưa mắt tìm Zuân, anh đứng lẫn trong đám đông, khuôn mặt cau có. Vui sao được khi ngồi cạnh người mình yêu là một gã trai ngoại quốc trẻ, mạnh mẽ, dáng dấp cao to tràn đầy nhiệt huyết. Zuân tránh cái nhìn của người yêu, anh bậm môi, ném sự hằn học về phía kẻ tình địch, hai ngón tay siết chặt. Không hiểu sao trong lòng anh thấy lo lắng, bồn chồn, sự lo lắng, bồn chồn mơ hồ của chàng trai đang yêu. Anh không sợ mất Đơn Đơn. Cô ấy đẹp nhưng phần xác không hoàn chỉnh, người ngợm như vậy chắc nào ai dám lấy. Nhưng biết đâu, người lành lặn thường mang kẻ dị hình ra làm trò giễu cợt. Mẹ Thương chả từng nói đấy ư. Hãy cảnh giác với người đời, họ hơn mình cái gì, họ sẽ lấy cái mình thiếu để rỡn cảnh. Như thằng hề trong kịch của Sếchpia chuyên mua vui cho vua chúa và đám cận thần.. Vậy thì gã tây ba lô kia đang muốn biến Đơn Đơn và Giáo Phường Thăng Long này làm trò hề. Số tiền bỏ thẻ của gã chẳng đã nói lên điều đó rồi sao! Vậy mà tiếng hát của Đơn Đơn hôm nay sao lại hay thế, cảm tưởng tác nhân cho tiếng hát của cô trong trẻo hơn, tình cảm hơn là vì có mặt gã tây mũi lõ kia..

- Nhị í i i tình, nhị i i i tình.. Em ở nhất tâm i i i i i i.. Sao anh ở với em nhị tình i i i i i i i. Anh ở với em nhị tình..

- Khen ai là ai xúi giục ấy mấy cho mình. Cho mình tâm chữ nhị tâm.. Sáng trăng suông, vằng vặc ư ư đêm hôm rằm..

Trong ánh sáng lung linh huyền diệu, tiếng hát của Đơn Đơn nổi giữa tiếng đàn, đôi lá phách trong tay cô đảo nhịp quyến cuộn cùng âm vực thanh sảng, réo rắt ném vào không gian lúc như tiếng chim ríu ran gọi bạn, lúc tan giòn như tiếng cười thôn nữ..

- Chát.. Chát.. Tom.. - Chàng trai ngoại quốc vung roi buông lời trống thưởng.

Ngồi ngoài, Trùm Thịnh nghe nhịp trống thả giật mình. Anh ta sáng dạ nhanh hiểu âm luật quá. Nếu không biết người ngồi giữ trống chầu là một thanh niên ngoại quốc thì dễ coi đấy là tay trống cự phách của một quan viên sành chơi trong lặng hát ả. Mắt Trùm Thịnh lim dim, ông đắm chìm vào dĩ vãng. Lâu lắm rồi Giáo Phường Thăng Long mới có một giọng Ca Trù đúng vực. Giá như ca nhi Đơn Đơn không phải là người của Câu lạc bộ Hàn Giang Ca Quán dưới Ninh Hải gửi lên, thì ông đã "chuộc" con bé về đây làm ca nương cho Giáo Phường Thăng Long rồi.

Thời buổi bây giờ, người hát nhiều, nhưng dễ đâu tìm được giọng ca bẩm sinh như vậy. Nhớ lúc kép bạn dưới thành phố Ninh Hải lên chơi đưa cho ông băng cát xét ghi giọng Đơn Đơn, nghe xong ông buột miệng: Ông sang ả này cho Giáo Phường Thăng Long chúng tôi nhé? Người bạn vòng tay đáp lễ: Chim còn non, giọng còn yểu, tôi nghĩ thời nay không còn như thời trước mà chúng ta nỡ làm tổn hại đến lòng tin của con trẻ. Cháu Đơn Đơn chẳng may sinh ra đã bị thiệt thòi, may nhờ giọng ca có triển vọng, lại được câu lạc bộ Hàn Giang Ca Quán cưu mang, ỷ nhờ tôi quen ông, gửi cháu lên đây theo học một kỳ, mong ông Trùm và Giáo Phường Thăng Long nể tình giúp đỡ, đào tạo cho thành phố Ninh Hải một giọng oanh vàng.

Câu nói của người bạn muốn nhắc ông chớ vì danh lợi làm tổn thương đến Đơn Đơn. Ngày xưa, gánh hát các vùng coi đào nương, kép đàn như hàng hóa, vào hạng xướng ca vô loài, hễ cần thì bỏ tiền mua bán, trao đổi, ít ai coi trọng nghiệp ca kỹ là chính kỳ môn phái. Duy có một vài phường hát ở đất Hà Nội và thành phố Ninh Hải còn duy trì được lối diễn cầm ca nhất mực. Cả hai nơi tuy cách xa nhau hàng trăm cây số, nhưng khí tiết và lối trọng tài khinh của, coi hát trù là thú chơi tao nhã, biểu hiện tài hoa vào bậc nhất nhã nhạc như nhau. Nhiều nghệ nhân thà bỏ nghiệp còn hơn đi vào nơi cửa hát tầm thường tục tĩu. Ngay như ông, vừa đoạt giải kép nhất đã có bài ba bầu sô đến tỉ tê chào gọi, hứa này hứa nọ. Kép Thịnh biết, chỉ nội ngồi cầm đàn ở cửa hát phố Khâm Thiên thôi, đêm nào chả thu trăm bạc dễ như bỡn. Nhưng kép Thịnh không màng, ông không ưa lối chơi bời phóng túng, không thích đào nương mắt mày la lén vừa "Hồng hồng.. Tuyết tuyết.." vừa ngả ngớn tiêm thuốc phiện hầu quan viên..

Và tới khi gặp Đơn Đơn, ông Trùm Thịnh lại càng hiểu vì sao người bạn kép đàn xưa của ông ở Hàn Giang Ca Quán thành phố Ninh Hải không muốn mất Đơn Đơn. Cô bé khuyết tật này được trời bù cho nét mặt thanh tú, xinh đẹp và giọng ca đặc biệt. Hình như Đơn đơn sinh ra để hát ca trù và ca trù sinh ra để dành riêng cho giọng ca của cô. Mỗi khi ngồi vào chiếu hát, cô đắm mình vào lời ca, hóa thân thành tích diễn, mang cái buồn lâng lâng cho những nỗi lòng để cảm thông chia sẻ, nhưng không quá sầu bi bạc nhược; mang cái vui nhè nhẹ cho những nỗi nhọc nhằn cơ cực sau những ngày vất vả truân chuyên.. Lá phách đôi trong tay cô không còn là đoạn tre thô mộc, nó cất lên thanh sắc rõ ràng hòa đồng cùng cung đàn réo rắt, làm nền cho từng câu, từng lời, từng chữ từ khoé môi xinh đẹp của người con gái miền duyên hải.

Quả như Trùm Thịnh đoán, Giáo Phường Thăng Long từ khi có giọng ca của Đơn Đơn đông khách hơn, số tiền bỏ thẻ nhiều hơn. Nhưng không vì thế mà ông coi Đơn Đơn là món hàng chuộc lợi. Nhiều quan viên tới nghe một lần gửi giấy đề nghị ông cho mời dích danh Đơn Đơn về hát tại nhà hay vào cơ quan mỗi khi tiếp khách nhưng ông không đồng ý. Ông giữ đúng lời hứa với người bạn kép đàn năm xưa. Trùm Thịnh không muốn làm hỏng một con người..

Trùm Thịnh đắm chìm vào ký ức, ông đang như người dự bữa dạ yến lần cuối. Đêm nay, đêm nay là bài thi tốt nghiệp của Đơn Đơn. Trùm Thịnh vẫn vậy, tỏ ra nghiêm khắc, không bao giờ ông cho học trò của mình biết thời gian nào sẽ kết thúc. Ngay như hôm qua mẹ Thương của Đơn Đơn lên chơi, ông cũng không nói. Cái gì cũng có thì, thể như âm vực của lời hát, ngân lúc nào, dài, ngắn bao nhiêu, trường đoạn, cung bậc ra sao, đối với ca nương khi nào thì nhả lời, khi nào cần buông chữ, khi nào ngân nga, hoài vọng phải nắm chắc, đâu chỉ có giọng trời phú đã bỗng chốc thành ca nương.

Đối với ông, Đơn Đơn là đứa trẻ đáng thương, nhưng tiếng hát lại là điều đáng trọng. Ông lập chương trình riêng cho Đơn Đơn học. Hình như ông biết giọng ca của Đơn Đơn sẽ còn bay xa nữa, nhất là bây giờ, tiếng hát Ca Trù được trọng, các ca nương được thả hồn vào những lời ca của những tháng năm chưa bao giờ phai mờ trong ký ức..

Và hôm nay ông biết, ông không có quyền giữ con chim oanh trong chiếc lồng chật hẹp, đã đến lúc phải thả nó bay về trả nghĩa cho quê hương..

- Con chim khôn chết mệt i i vì mồi i i i i i i Chết mệt vì mệt mồi, nó kêu là kêu réo rắt ấy ghẹo người i i i i i i i i người nhân i i mấy tình nhân. Đôi duyên ta đã kết i Châu Trần..

- Chát.. Tom..

Lời trống đổ hòa vào câu hát cuối, quyện theo tiếng đàn thành âm vọng réo rắt, chuỗi âm thanh lăn tăn buông vào không gian như tiếng mưa rơi kết lại xoắn xuýt, như đôi tình nhân kẻ ở người đi không nỡ dứt.. Rồi đột ngột thanh âm ngưng lại thành một nỗi bâng khuâng luyến nhớ, khiến khán giả nín hơi không dám hở..

Giọng âm thanh cuối chìm lắng ấy là lúc bật lên tiếng vỗ tay râm ran chúc mừng cho món ăn tinh thần trọn vẹn. Trùm Thịnh sực tỉnh, ông đứng dậy đi tới chỗ chàng thanh niên ngoại quốc, kéo anh ta tới chỗ Đơn Đơn ngồi, ra hiệu cho hai người thi lễ. Người thanh niên ngoại quốc đưa cả hai bàn tay nắm lấy tay cô giữ thật lâu. Mặt Đơn Đơn đỏ bừng, cô bẽn lẽn cúi đầu e lệ, bàn tay mềm mại nằm gọn lỏn trong bàn tay nồng nàn nhiệt lượng..

Trùm Thịnh quay lại chắp tay chào khán giả, ông trịnh trọng nói:

- Thưa các quan viên, thay mặt cho Giáo Phường Thăng Long tôi xin tuyên bố: Kể từ giờ phút này, ca nhi Đơn Đơn được thăng hạng thành Ca Nương chính thức..

Tất cả lặng đi giây lát rồi bỗng dưng tiếng hoan hô nổi lên như sấm, nhiều người chạy lên tặng hoa cho Đơn Đơn, tất cả xúm xít quanh cô chúc mừng. Đơn Đơn cố kìm nhưng nước mắt vẫn chảy, những ngọn nến lung linh thành trăm nghìn ngôi sao nhiều cánh..

Chàng thanh niên ngoại quốc sau giây lát ngỡ ngàng chừng như hiểu, anh giang tay bế thốc cô giơ lên quá đầu:

- Hoang hô.. Hoang hô..

Ngồi trên tay người thanh niên ngoại quốc, Đơn Đơn rực rỡ, sán lạn như bóng hoa biết nói, khuôn mặt ngời ngời, tâm hồn phiêu diêu trong tiếng reo hò và tiếng hoan ca..

Nhưng Đơn Đơn có biết đâu, trong khi cô ríu rít với chàng thanh niên ngoại quốc, Zuân lặng lẽ bỏ ra ngoài, anh đi về phía chiếc xe trèo lên ngồi, đầu gục vào tay lái, hai ngón tay bấu chặt vào lồng ngực cho con tim bớt quặn.
 
283 ❤︎ Bài viết: 1434 Tìm chủ đề

Chương 39​


20261031-093154-3bbc675434.png


39

Bình cấm chiếc kính hiển vi lên soi. Bào tử nấm Hoàng Chi được phóng to nhiều lần, những thân trụ óng vàng như tơ đang hình thành. Được rồi. Bình lẩm nhẩm, rồi dùng que gẩy, thận trọng tách ra từng mô, cấy sang bịch mùn. Lần này chắc được - Bình nghĩ - Tuy nghĩ thế, nhưng trong lòng vẫn thấp thỏm.

Vừa làm Bình vừa rà soát lại những bước đã làm. Bắt đầu là những phôi nấm Hoàng Chi được làm vụn, lựa tế bào, vô trùng rồi cho vào ủ với nhiệt độ thấp, mang vào phòng thí nghiệm, tạo môi trường thích hợp, kích thích các bào tử phát triển, sau đó chờ đủ ngày cấy sang bịch mùn..

Nhớ lần cô Thương đưa Bình về thăm Giáo sư Hoàng. Thấy Bình hoạt bát, nhanh nhẹn hẳn lên, ông mừng rỡ ôm vai Bình xoay vòng, khen: Tốt! Tốt. Cháu của bác ra dáng một chàng trai rồi. Đúng là khí hậu miền biển có khác. Và ông còn mừng hơn nữa khi biết sản phẩm của trại bán chạy. Ông hỏi Thương: Sắp tới đây em có định phát triển thêm mặt hàng gì nữa không?

Thương nói: Hiện nay trại của em có Trà Linh Chi; Nấm Linh Chi khô; Nấm Mỡ tươi và Mộc Nhĩ trắng đóng hộp. Nhưng tới đây em định làm thêm hai mặt hàng mới nữa. Đó là rượu Hoàng Chi và Thực phẩm cao cấp tổng hợp. Theo ý thầy thế nào ạ? Chà chà.. - Giáo sư Hoàng thốt lên - Được vậy thì tốt. Nhưng muốn mở rộng như thế, trước hết em phải có cơ sở hạ tầng, nơi sản xuất đủ tiêu chuẩn an toàn thực phẩm, có máy móc, thiết bị chế biến sản phẩm. Vâng - Thương đáp - Trại chúng em vốn liếng còn nhỏ nên đành lấy phương châm "lấy ngắn nuôi dài", chứ thầy tính, làm lớn ngay thì lấy đâu ra. Giáo sư Hoàng cười, hở ra hai hàm răng giả trắng lốp: Đành thế, nhưng về mặt pháp lý không tuân thủ không được. À, ở đấy chính quyền có gây khó, dễ cho em không? Thương đáp: Thưa thầy, không đâu ạ. Các anh ở thành phố rất quan tâm, mà em có làm gì sai qui định đâu mà sợ. Tiêu chuẩn chất lượng đã có Viện bảo đảm, những sản phẩm của trại làm ra đều được cấp giấy chứng nhận. Có điều.. - Thương ngập ngừng. Sao? - Giáo sư Hoàng hỏi - Còn vấn đề gì hả em? Thương thở dài: Vốn thầy ạ. Em muốn mua máy móc và xây lại lò sấy, nhưng hiện nay kẹt tiền quá. Định lấy tài sản ra thế chấp ngân hàng, nhưng kẹt một nỗi, đất đai đang lằng nhằng nên chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng.

Giáo sư Hoàng trầm ngâm suy nghĩ, lát sau ông nói: Để tôi bàn với lãnh đạo Viện nhượng lại cho em một số thiết bị cũ với giá thanh lý. Trong đó có nồi cầu chưng cất cồn, mấy cái máy nghiền bột và giàn sấy. Tuy cũ nhưng còn tốt. Nếu được tôi sẽ điện cho em. Mắt Thương sáng ngời: Thầy giúp cho chúng em được như thế thì tốt quá. Em cảm ơn thầy. Bình láu táu, kéo tay áo bác: Nhưng bác ơi, trại chúng cháu chưa có tiền trả ngay đâu bác ạ. Giáo sư Hoàng cười: Cháu an tâm, cái gì cho được thì cho, còn cái gì phải trả tiền thì cho trả dần - Nói rồi ông xoa đầu Bình - Nhân đây vợ chồng tôi cũng cảm ơn trại vì đã chăm sóc cháu Bình. Thấy nó thế này, chắc hương hồn của bố nó cũng đỡ tủi. Có gì đâu hả thầy - Thương nói - Chúng em phải cảm ơn thầy đã cho Bình xuống giúp em. Trại được như bây giờ, công của cháu Bình lớn lắm.

Được khen, Bình xấu hổ: Cô cứ nói thế, cháu làm được gì đâu. - Chợt nó quay sang hỏi giáo sư - Bác ơi, cháu nghe đài nói còn có phương pháp trồng Linh Chi trên bã mía, có phải không hả bác? Giáo sư đi lại tủ, lấy ra một tập tài liệu đưa cho nó: Trong này có nói đến phương pháp trồng Linh Chi bằng bã mía. Phương pháp này khó trồng, nhưng nếu làm được như vậy, giá thành sản phẩm hạ lắm đấy. Bình cầm lấy mở ra xem, khi đọc đến phần "Tham khảo phương pháp trồng nấm Linh Chi trên bã mía" nó mừng rỡ: May rồi cô Thương ơi, hôm nọ Doan đang kêu với cháu dạo này giá gỗ lên cao mà cũng khó mua lắm. Cháu mà trồng được Linh Chi bằng bã mía, chắc cô ấy vui lắm. Nhìn Bình náo nức, giáo sư Hoàng vui ứa nước mắt, ông hỏi nhỏ Thương: Chuyện hai đứa liệu có thành không em? Thương mủm mỉm: Tốt thấy ạ. Hai đứa bện nhau lắm. Giáo sư vuốt mái tóc bạc phơ, ông bước ra cửa sổ, gió mơn man lay động những vòm cây, để lộ ra một khoảng trời trong xanh và những áng mây thật trắng bồng bềnh trôi..

Trên đường về, Thương nói với Bình: Nếu mình trồng thuần nấm Hoàng Chi và có công đoạn chưng cất rượu, cô sẽ đặt tên loại rượu ấy là "Nữ hoàng Linh Chi" cháu thấy thế nào? Chưa có con đã đặt tên. Bình nghĩ trong bụng thế rồi nói: Để trồng thành công được hãy tính cô ạ. Vậy mà hai lần nó trồng thử, nấm phát triển nhưng hàm lượng không cao. Khi mang nấm đi thử chất lượng, không đạt yêu cầu. Nó gọi điện hỏi bác Hoàng. Bác khuyên: Cháu thử cấy bằng phương pháp cổ truyền xem sao. Phương pháp cổ truyền là dùng chính nhưng mô tế bào lấy từ những cây nấm đã thu hoạch để tạo giống. Rồi Giáo sư Hoàng gửi theo đường bưu điện cho nó một cây nấm Hoàng Chi có độ tuổi cao..

Mải làm, Bình không biết Doan ngồi ngoài cửa từ bao giờ. Doan vén mành, nhẹ nhàng lết vào rồi đu người lên ghế, lặng yên ngồi ngắm Bình. Không hiểu bắt đầu từ bao giờ Doan mang lòng yêu Bình. Anh ấy lành hiền, nói năng nhẹ nhàng, rù rà, rù rì, bị trêu chỉ nhe răng cười. Suốt ngày lăn lộn với công việc. Ấy vậy mà từ ngày được mẹ Thương phân công phụ trách kỹ thuật cũng ra dáng lắm. Động tý, anh bận, không có thời gian. Ngày chủ nhật, bảo đèo ra biển chơi, anh còn đang theo dõi nấm. Cứ làm như đi vắng một ngày là trại này sẽ hỏng việc. Rồi còn nữa, mua áo quần tử tế cho, không mặc. Còn dọa: Em bắt anh thay đổi nếp sống anh không chơi với em nữa. Doan nói: Anh bây giờ đã là cán bộ của trại rồi đấy! Thế thì đã sao? - Bình bài bây - Cán bộ với công việc chứ đâu phải cán bộ trong sinh hoạt.

Và rồi đâu hoàn đấy, lại "đặc biệt" như cũ, búi tó, mặc quần áo mầu đen và hành lễ theo ý của mình, kệ cho Doan nì nèo, bậm bục. Đành vậy, Doan thở dài, người đâu mà bảo thủ ghê gớm.

Nghe tiếng thở dài, Bình quay lại. Nhìn thấy Doan, Bình dừng tay, hỏi: Anh tưởng em đi Nhà máy Đường Vạn Điểm liên hệ mua bã mía? Doan bóc lớp giấy bao ngoài hộp sữa đậu nành đưa cho Bình: Anh uống đi đã. Lẽ ra bây giờ em đã ở đấy rồi, nhưng mẹ gọi về gấp. Đang đưa ống hút lên miệng, Bình giật phắt ra: Sao? Chuyện gì? Doan nhìn khuôn mặt sửng sốt của người yêu: Uống đi rồi em nói. Bình làm một hơi, ném vỏ hộp vào thùng rác: Em nói đi! Doan đưa cho Bình khăn lau: Em không biết cụ thể, nhưng chắc là chuyện Đơn Đơn với anh chàng người Mỹ. Bình trợn mắt: Người Mỹ? Sao em biết? Em nghe Zuân kể - Doan đáp - Trông thằng bé đến tội. Nghĩ ngợi nhiều, gầy rộc, mắt thâm quầng. Bình dẩu mõm, hỏi: Thế Đơn Đơn tuyên bố cắt đứt à? Chưa - Thằng Zuân kể với em Đơn Đơn chưa nói gì. Nhưng từ hôm nó về Ninh Hải, hai đứa chưa giáp mặt nhau bao giờ. Thế còn thằng Mỹ? - Bình hỏi - Sao không bảo mẹ làm đơn đề nghị nhà nước tống cổ mẹ nó về nước cho khuất mắt? Nghe, Doan cười rũ: Sao anh ngày thơ thế? Nhà nước làm gì có lệnh cấm người nước ngoài yêu. Bình ngước mắt nhìn người yêu: Thế nếu là em cũng vậy à? Sao anh hỏi dớ dẩn thế? - Doan lấy tay đấm Bình. Bình đỡ bàn tay Doan, dịu dàng ve vuốt: Anh hỏi vậy thôi. Nhưng chuyện này lại làm cô Thương đau đầu đây.

Doan để nguyên tay mình trong bàn tay ấm nóng của người yêu. Sự cảm nhận mới kỳ diệu làm sao. Doan ngả người vào ngực Bình, áp tai lên trái tim nghe tiếng đập rộn ràng. Bình lấy cằm day day làn tóc, hà hít thoảng thơm hương bồ kết, thì thầm: Em mãi là của anh nhé! Vâng - Doan khẽ đáp rồi ngửa mặt lên nhìn Bình đắm đuối - Em là của anh mà. Bình luồn tay bế Doan lên lòng, ghì riết, đặt lên môi người yêu một nụ hôn nồng nàn, cháy bỏng; bàn tay Bình mơn trớn dịu dàng ve vuốt đôi chân vô cảm. Doan thích vậy. Dường như mỗi lần vậy, Doan nhận từ nơi anh truyền sang một sức sống diệu kỳ, mạch máu trong thân thể được hồi sinh. Doan vui sướng, đón nhận niềm cảm xúc với lòng biết ơn mãnh liệt. Cảm ơn anh.. Cảm ơn anh.. Doan lắp bắp, hai tay vòng đầu anh vít xuống, cô rướn người lên, mắt nhắm nghiền, đôi môi thổn thức, khao khát chà xát, đòi hỏi thèm muốn.

Chúng mình cưới nhau đi - Bình nói khi lấy răng nhay nhay vào tai Doan. Đáp lại Bình, Doan nói: Vâng, để chuyện của Đơn Đơn qua rồi bọn mình sẽ báo cáo với mẹ Thương. Nhắc đến Đơn Đơn, Bình thở dài: Không chừng mẹ bắt con bé về trại mất. Không được hát chắc con bé khổ lắm. Doan ngồi dậy, sửa lại làn tóc rối: Nhưng nếu cứ để nó quan hệ với anh chàng người Mỹ cũng không được. Lại làm khổ thằng Zuân. Vậy thì làm thế nào? - Bình đặt câu hỏi, chợt một ý nghĩ vụt lên trong đầu - Hay ta bảo mẹ Thương nhờ bác Thành và bác Hải can thiệp. Doan tần ngần suy tính, rồi nói: Còn nước còn tát anh ạ. Để tối nay em bàn với mẹ và bác Thùy.
 

Những người đang xem chủ đề này

Xu hướng nội dung

Back