- Xu
- 128,049
VÀI NÉT VỀ NGUYỄN TRÃI (1380-1442)
Ngyễn Trãi (阮廌) hiệu là Ức Trai (抑齋) . Tiên sinh người xã Nhị Khê, huyện Thượng Phúc (nay là phủ Thường Tín, Hà Đông). Năm 21 tuổi (1400) ông thi đậu Thái-Học sinh (tương đương Tiến Sĩ các thời trước) năm đầu đời Hồ Quý Ly (niên hiệu Thánh Nguyên) được bổ làm Ngự sử đài chính chưởng. Cha ông là Nguyễn Ứng Long hiệu là Nhị Khê, sau đổi là Nguyễn Phi Khanh, là một nho sinh học giỏi được quan Tư Đồ Trần Nguyên Đán mời dạy trong tư dinh rồi kết hôn với Trần Thị Thái, con gái thứ ba của hoàng thân nhà Trần này.
Khi nhà Minh thôn tính nước ta, bắt những người tài giỏi sang Trung Quốc, trong đó có Nguyễn Phi Khanh, ông theo lời cha lo việc phục thù, giúp nước. Ông từng bị quân Trương Phụ bắt đưa về thành Đông Quan (tức Thăng Long) sau được tha và tìm cách vào Lam Sơn (Thanh Hóa – 1418) giúp Lê Lợi mười năm khởi nghĩa chống quân Minh. Nguyễn Trãi là một nhà mưu lược và giỏi chính trị trong việc lập kế sách, vận động quân sĩ, đấu trí với quân xâm lược. Khi Lê Lợi lên ngôi lấy hiệu là Lê Thái Tổ (1428), nhờ công lớn, ông được đổi theo họ nhà vua là Lê Trãi, được phong tước Quan Phục Hầu và làm quan Nhập nội hành khiển (Tể tướng). Năm 1429, tướng Trần Nguyên Hãn, anh em bên ngoại của ông, đang là Thượng thư Bộ Binh bị Lê Thái Tổ nghi ngờ làm phản bắt phải tự vẫn. Nguyễn Trãi bị bắt giam, sau được trả tự do nhưng bị thất sủng. Năm 1439 (60 tuổi) ông xin về trí sĩ ở Côn Sơn, nơi ông ngoại mình là Trần Nguyên Đán từng ở ẩn. Khi Lê Thái Tông trưởng thành nắm lại quyền vua từ tay phụ chính chuyên quyền là Lê Sát, ông theo lời mời của vua ra giúp nước. Nhưng Lê Thái Tông là một ông vua đam mê tửu sắc, không quan tâm lo lắng việc nước, nên Nguyễn Trãi một lần nữa xin về trí sĩ ở Côn Sơn. Dầu vậy, năm sau, vua lại triệu ông về giữ chức giám sát vùng Đông Bắc và được lấy Côn Sơn làm dinh. Năm 1442, Lê Thái Tông đi tuần thú vùng Chí Linh, có một người thiếp xinh đẹp của Nguyễn Trãi là Lễ nghi học sĩ Nguyễn Thị Lộ theo hầu. Khi nghỉ đêm ở Lệ Chi viên, Lê Thái Tông bị bệnh và mất tại đây. Triều đình do hoàng hậu Nguyễn Thị Anh nắm giữ, vì thù ghét Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ đã cứu cung phi Tiệp Dư Ngô Thị Ngọc Dao (là mẹ của vua Lê Thánh Tông sau này) thoát tội chết nên đã làm án vu cho hai người tội âm mưu giết vua phải "tru di tam tộc". Ông mất vào ngày 16 tháng 8 năm Nhâm-Tuất (19-9-1442) thọ 63 tuổi. Năm 1464, Lê Thánh Tông khi nắm quyền bính đã thấy rõ nỗi oan của ông nên xuống chiếu giải oan và truy tặng chức Vinh Lộc Đại Phu, tước Tế Văn Hầu.
* * *
Nguyễn Trãi không những là một người giỏi chính trị, quân sự, ngoại giao mà còn là một nhà văn, nhà thơ, nhà lý luận xuất chúng nữa. Tiếc thay, văn thơ của ông sau vụ án Lệ Chi viên đã bị thất lạc rất nhiều. Mãi đến những năm thời Minh Mạng, Tự Đức triều Nguyễn (tức gần 400 năm sau khi ông mất), các ông Dương Bá Cung, Nguyễn Định và Ngô Thế Vinh mới sưu tập và khảo chính được các văn thơ còn lại của Nguyễn Trãi tập họp thành bộ ỨC TRAI DI TẬP cho khắc in vào năm 1868.
Ngyễn Trãi (阮廌) hiệu là Ức Trai (抑齋) . Tiên sinh người xã Nhị Khê, huyện Thượng Phúc (nay là phủ Thường Tín, Hà Đông). Năm 21 tuổi (1400) ông thi đậu Thái-Học sinh (tương đương Tiến Sĩ các thời trước) năm đầu đời Hồ Quý Ly (niên hiệu Thánh Nguyên) được bổ làm Ngự sử đài chính chưởng. Cha ông là Nguyễn Ứng Long hiệu là Nhị Khê, sau đổi là Nguyễn Phi Khanh, là một nho sinh học giỏi được quan Tư Đồ Trần Nguyên Đán mời dạy trong tư dinh rồi kết hôn với Trần Thị Thái, con gái thứ ba của hoàng thân nhà Trần này.
Khi nhà Minh thôn tính nước ta, bắt những người tài giỏi sang Trung Quốc, trong đó có Nguyễn Phi Khanh, ông theo lời cha lo việc phục thù, giúp nước. Ông từng bị quân Trương Phụ bắt đưa về thành Đông Quan (tức Thăng Long) sau được tha và tìm cách vào Lam Sơn (Thanh Hóa – 1418) giúp Lê Lợi mười năm khởi nghĩa chống quân Minh. Nguyễn Trãi là một nhà mưu lược và giỏi chính trị trong việc lập kế sách, vận động quân sĩ, đấu trí với quân xâm lược. Khi Lê Lợi lên ngôi lấy hiệu là Lê Thái Tổ (1428), nhờ công lớn, ông được đổi theo họ nhà vua là Lê Trãi, được phong tước Quan Phục Hầu và làm quan Nhập nội hành khiển (Tể tướng). Năm 1429, tướng Trần Nguyên Hãn, anh em bên ngoại của ông, đang là Thượng thư Bộ Binh bị Lê Thái Tổ nghi ngờ làm phản bắt phải tự vẫn. Nguyễn Trãi bị bắt giam, sau được trả tự do nhưng bị thất sủng. Năm 1439 (60 tuổi) ông xin về trí sĩ ở Côn Sơn, nơi ông ngoại mình là Trần Nguyên Đán từng ở ẩn. Khi Lê Thái Tông trưởng thành nắm lại quyền vua từ tay phụ chính chuyên quyền là Lê Sát, ông theo lời mời của vua ra giúp nước. Nhưng Lê Thái Tông là một ông vua đam mê tửu sắc, không quan tâm lo lắng việc nước, nên Nguyễn Trãi một lần nữa xin về trí sĩ ở Côn Sơn. Dầu vậy, năm sau, vua lại triệu ông về giữ chức giám sát vùng Đông Bắc và được lấy Côn Sơn làm dinh. Năm 1442, Lê Thái Tông đi tuần thú vùng Chí Linh, có một người thiếp xinh đẹp của Nguyễn Trãi là Lễ nghi học sĩ Nguyễn Thị Lộ theo hầu. Khi nghỉ đêm ở Lệ Chi viên, Lê Thái Tông bị bệnh và mất tại đây. Triều đình do hoàng hậu Nguyễn Thị Anh nắm giữ, vì thù ghét Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ đã cứu cung phi Tiệp Dư Ngô Thị Ngọc Dao (là mẹ của vua Lê Thánh Tông sau này) thoát tội chết nên đã làm án vu cho hai người tội âm mưu giết vua phải "tru di tam tộc". Ông mất vào ngày 16 tháng 8 năm Nhâm-Tuất (19-9-1442) thọ 63 tuổi. Năm 1464, Lê Thánh Tông khi nắm quyền bính đã thấy rõ nỗi oan của ông nên xuống chiếu giải oan và truy tặng chức Vinh Lộc Đại Phu, tước Tế Văn Hầu.
* * *
Nguyễn Trãi không những là một người giỏi chính trị, quân sự, ngoại giao mà còn là một nhà văn, nhà thơ, nhà lý luận xuất chúng nữa. Tiếc thay, văn thơ của ông sau vụ án Lệ Chi viên đã bị thất lạc rất nhiều. Mãi đến những năm thời Minh Mạng, Tự Đức triều Nguyễn (tức gần 400 năm sau khi ông mất), các ông Dương Bá Cung, Nguyễn Định và Ngô Thế Vinh mới sưu tập và khảo chính được các văn thơ còn lại của Nguyễn Trãi tập họp thành bộ ỨC TRAI DI TẬP cho khắc in vào năm 1868.
Last edited by a moderator: